Cách thức giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản của một nền kinh tế: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? phụ thuộc quan trọng vào hình thức tổ chức và quản lý nền kinh tế của mối quốc gia.
Mỗi quốc gia khác nhau, xuất phát từ đặc điểm kinh tế, chính trị, lịch sử cụ thể của mình trong từng giai đoạn lịch sử đều chọn cho mình một hình thức tổ chức quản lý nền kinh tế (mô hình nền kinh tế) được xác định là phù hợp nhất.
Trong những cây xăng Tây Âu, Nhật Bản.v.v... là những giao kèo xã hội rất khác của Mỹ, và những cách nhìn nhận rất khác nhau về cung cách hoạt động của thị trường, cũng như phương pháp kiểm soát thị trường.
Người châu Âu và Nhật Bản tin vào việc nhà nước có quyền kiểm soát dân chúng và thị trường, trong khi người Mỹ thì tin rằng hãy để dân chúng nắm quyền và trả tự do cho thị trường tới mức nhất định, để cả hai tự phân định ra kẻ thắng người thua.
Do những người Nhật, Tây Âu v.v... không cảm thấy thoải mái trong các thị trường hoàn toàn tự do, với những lợi nhuận và trừng phạt sinh ra trong thị trường này, nên những cây xăng của họ được thiết kế để thể hiện những tấm đệm giữa những sự bất bình đẳng và để phân chia đồng đều các lợi nhuận.
Thế kỷ XX đã chứng kiến cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống kinh tế, đúng hơn là giữa hai mô hình đối lập: Kế hoạch hóa và kinh tế thị trường.
Cuối thế kỷ XX câu trả lời đã rõ ràng:
Mô hình KHH tập trung đã thất bại trong việc duy trì tăng trưởng, tạo ra sự phồn vinh và đảm bảo phúc lợi kinh tế cao cho người dân.
Mô hình kinh tế thị trường đã tỏ ra thành công trong các nền kinh tế đa dạng: Tây Âu, Bắc Mỹ, Châu á, Mỹ Latinh,..
Thực ra cho thấy bàn tay vô hình của thị trường đã tự do thường tỏ ra ưu thế vượt trội so với bàn tay hữu hình của Nhà nước trong việc phân bổ các nguồn lực khan hiếm của XH. Song trong một số trường hợp, bàn tay vô hình không vận hành tốt.
Khi đó, sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường có thể nâng cao hiệu quả hoạt động chung của nền kinh tế.
Hầu hết các nước trên thế giới đều vận hành theo mô hình kinh tế hỗn hợp.
Trong nền kinh tế hỗn hợp hiện đại, cả nhà nước và thị trường cùng điều tiết các hoạt động kinh tế, Nhà nước đóng vai trò quan trọng chứ không đơn thuần giống như “một cảnh sát giao thông” giám sát và kiểm tra hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân.
Làm thế nào để nâng cao vai trò Nhà nước trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN?
Module1: Một số lý luận về
kinh tế thị trường trên thế giới
Kinh tế thị trường
Trong lịch sử phát triển KT – XH đã tồn tại hai loại nền kinh tế là kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá.
Kinh tế tự nhiên là kiểu kinh tế - xã hội, trong đó hình thái phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để thoả mãn nhu cầu của chính người sản xuất ra nó.
=> Đây là kiểu nền kinh tế xuất hiện đầu tiên trong lịch sử và tồn tại phổ biến vào thời kỳ cuối của phương thức sản xuất cộng sản nguyên thuỷ.
Kinh tế hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, trong đó hình thái phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để bán, để trao đổi trên thị trường.
Kinh tế hàng hoá ra đời, tồn tại 2 điều kiện:
Phải có sự phân công lao động xã hội
Sự tách biệt về kinh tế giữa những người sản xuất với nhau- sự tách biệt này dựa trên cơ sở chế độ tư hữu hoặc những hình thức sở hữu khác nhau về TLSX.
=> Kinh tế hàng hoá xuất hiện từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã và chế độ chiếm hữu nô lê ra đời.
Kinh tế hàng hoá sản xuất ra sản phẩm để bán vì mục đích thu lãi cao nhất. Vì vậy, lợi nhuận vừa là động lực, vừa là mục đích của kinh tế hàng hoá. Do đó, kinh tế hàng hoá thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh.
Kinh tế hàng hoá phát triển qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn thấp – kinh tế hàng hoá giản đơn. Đặc trưng:
Sản xuất quy mô nhỏ, phân tán;
Kỹ thuật lao động lạc hậu, công cụ lao động thủ công là phổ biến, năng suất lao động thấp;
Tỷ lệ tích luỹ thấp do đó nền kinh tế phát triển chậm;
Kinh tế hàng hoá giản đơn gắn với phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ và phong kiến.
Giai đoạn cao- kinh tế hàng hoá phát triển. Đặc trưng:
Sản xuất tập trung, quy mô lớn;
Công cụ lao động là máy móc, thiết bị ngày càng hiện đại, năng suất lao động cao;
Tỷ lệ tích luỹ cao, dó đó nền kinh tế phát triển nhanh.
Kinh tế hàng hoá phát triển gắn với phương thức sản xuất TBCN và CNXH- giai đoạn đầu của CNCS.
Kinh tế hàng hoá phát triển luôn vận động theo các yêu cầu của quy luật kinh tế khách quan của thị trường => gọi là kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường chỉ là trình độ phát triển cao của nền kinh tế hàng hoá= > bản chất đều là sản xuất ra sản phẩm để bán, trao đổi trên thị trường.
Kinh tế thị trường là quá trình phát triển lịch sử tự nhiên, là quá trình phát triển kinh tế khách quan.
Kinh tế thị trường là gì?
Kinh tế thị trường là hình thức (trình độ) phát triển cao của kinh tế hàng hoá, trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của quá trình sản xuất đều thực hiện qua thị trường;
Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế trong đó các quan hệ thị trường quyết định sự phân bổ nguồn lực thông qua hệ thống giá cả.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường.
Cơ chế thị trường là cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hoá theo yêu cầu các quy luật kinh tế khách quan của thị trường nhằm xác định ba vấn đề cơ bản của nền kinh tế là sản xuất ra cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất như thế nào?
Các đặc trưng của kinh tế thị trường
Các cá nhân được tự do ra quyết định kinh tế: Họ không bị buộc phải làm những điều mà họ cho là không có lợi; Họ được tự do lựa chọn việc làm, tham gia công đoàn và quyết định ông chủ của mình; tự do quyết định chi bao nhiêu thu nhập cho tiêu dùng hiện tại và chi vào hàng hoá dịch vụ nào; dành bao nhiêu để tích luỹ cho tương lai và phân bổ thế nào tài sản hiện có vào các danh mục đầu tư.
Các doanh nghiệp được tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh, quy mô, công nghệ, các yếu tố sản xuất, địa điểm, phương thức phân phối sản phẩm tạo ra,...
Hầu hết các quyết định đó không xuất phát từ động cơ đóng góp cho phúc lợi chung của toàn xã hội mà xuất phát từ lợi ích riêng. Giá cả đóng vai trò là công cụ phát tín hiệu để liên kết những quyết định phân tán đó và làm cho cả hệ thống ăn khớp với nhau.
Canh tranh là nguyên tắc có tính nền tảng của kinh tế thị trường, nó đòi hỏi các DN phải thường xuyên nâng cao hiệu quả mới có thể đứng vững trong cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà cung ứng để tối đa hóa lợi nhuận. Canh tranh là động cho phép các nguồn lực phân bổ có hiệu quả nhất. Những doanh nghiệp nào yếu kém, thua lỗ sẽ bị phá sản, các nguồn lực sẽ chuyển sang các doanh nghiệp hoạt động tốt hơn
Các đặc trưng của kinh tế thị trường
Bước vào thị trường, doanh nghiệp với tín hiệu giá cả, họ chỉ ra quyết định vì lợi ích, lợi nhuận của riêng họ.
Song giống như bàn tay vô hình, hệ thống giá cả đã liên kết hành động của các cá nhân ấy và dẫn dắt họ tạo nên một kết quả nằm ngoài dự kiến là đem lại lợi ích cho XH tốt hơn so với khi họ chủ định làm vậy.
-> Đặc điểm ấy làm cho kinh tế thị trường tỏ ra ưu việt hơn hệ thống kế hoạch hóa tập trung trong việc phân bổ các nguồn lực khan hiếm.
Mô hình nền kinh tế chỉ huy (kế hoạch hoá tập trung)
Là mô hình mô tả nền kinh tế mà trong đó việc giải quyết 3 vấn đề kinh tế cơ bản chủ yếu do Nhà nước thực hiện theo phương thức kế hoạch hoá tập trung thống nhất. Đặc trưng là:
Không chấp nhận sự tồn tại của thị trường và sự chi phối của các quy luật thị trường
Việc lựa chọn phương án giải quyết ba vấn đề cơ bản của nền kinh tế cũng như các cơ sở sản xuất đều do nhà nước thực hiện. Nhà nước can thiệp trực tiếp và toàn diện vào các hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong XH;
Nhà nước quản lý tập trung, theo kế hoạch thống nhất từ mọi hoạt động sản xuất và tiêu dùng;
Giữa người sản xuất và tiêu dùng không có mối liên hệ mật thiết vì các cơ sở sản xuất thực hiện các quá trình sản xuất và giao nộp sản phẩm cho NN theo các chỉ tiêu KH NN để NN thực hiện quá trình phân phối sản phẩm cho người tiêu dùng chứ không xuất phát từ nhu cầu của người tiêu dùng;
Người tiêu dùng không được tự do lựa chọn tiêu dùng cái mình cần mà tiêu dùng theo sự phân phối của NN;
Các đặc trưng của kinh tế thị trường
Sự liên kết tự động và linh hoạt: Hệ thống thị trường dựa trên các quyết định phi tập trung=> linh hoạt hơn, điều chỉnh nhanh hơn và dễ thích ứng hơn trong môi trường thường xuyên biến động. Lợi thế to lớn của thị trường là nó phát tín hiệu một cách tự dộng khi điều kiện thay đổi.
Thúc đẩy tiến bộ và tăng trưởng: Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân chấp nhận rủi ro, hy sinh thời gian và tiền bạc nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Hệ thống thị trường hoạt động thông qua việc thử nghiệm; lựa chọn và đào thải để phân loại hàng hoá và phân bổ nguồn lực vào những thứ được coi là ưu việt nhất: hàng hoá được sản xuất bởi những người có chi phí thấp nhất và được bán cho những người trả giá cao nhất.
Phi tập trung hóa quyền lực: và con người ít bị áp đặt do cơ chế vận hành là hướng đến lợi ích riêng và tự do quyết định; cạnh tranh là động lực phát triển quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường. Do áp lực từ phía các đối thủ cạnh tranh, các doanh nghiệ luôn phải tự tìm cách hoàn thiện mình để có thể sản xuất hàng hoá với chất lượng cao nhất, giá thành thấp nhất và phục vụ khách hàng tốt nhất thì mới thu được lợi nhuận, duy trì hoạt động và mở rộng thị phần trên thị trường.
Các loại hình kinh tế thị trường
Có 2 loại hình kinh tế thị trường:
KTTT tự do cạnh tranh: Dựa trên lý thuyết về sự chi phối của "bàn tay vô hình" là các quy luật thị trường khách quan. Việc sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất như thế nào? là do thị trường quyết định.
Đặc trưng của KTTT tự do cạnh tranh, nói vắn tắt như sau:
(1) mọi người đều có quyền tham gia thị trường;
(2) các quyết định kinh tế đều phải dựa trên tín hiệu của thị trường;
(3) cạnh tranh thị trường là quyền tự do tối thượng;
(4) nhà nước không can thiệp vào thị trường.
Thứ 2, KTTT có sự điều tiết của Nhà nước.
Đây là loại hình KTTT hỗn hợp - kết hợp giữa KTTT tự do cạnh tranh và sự điều tiết của Nhà nước.
Cơ sở lý luận là lý thuyết về sự kết hợp giữa sức mạnh của cơ chế thị trường và "bàn tay" nhà nước của trường phái kinh tế chủ nghĩa tự do mới và của trường phái chính hiện đại.
Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều phát triển KTTT có sự điều tiết của Nhà nước.
Mô hình phát triển kinh tế thị trường trên thế giới
Mô hình kinh tế thị trường tự do kiểu Mỹ
Mô hình kinh tế Nhật bản với sự kết hợp giữa thị trường và kế hoạch
Mô hình kinh tế thị trường xã hội của Cộng hoà Liên bang Đức
Mô hình các nước Đông Á (Nics) tương tự Nhật Bản
Mô hình Trung Quốc
1. Mô hình kinh tế thị trường Bắc Âu:
Mô hình kinh tế thị trường Bắc Âu có thể phân thành hai “nhánh”.
Một nhánh là kinh tế thị trường “Xã hội phúc lợi” ở Thụy Điển từ những năm 30 của thế kỷ XX.
Mô hình này được xây dựng dựa trên lý thuyết “Ngôi nhà chung cho mọi người“ của phái Xã hội-Dân chủ, mà đại diện là cựu Thủ tướng Thụy Điển P.A.Hanson;
Xuất phát từ mục tiêu của “Chủ nghĩa xã hội chức năng“, với khẩu hiệu: ”bình đẳng, đảm bảo xã hội, hợp tác và sẵn sàng giúp đỡ“.
Trong mô hình này, sự phát triển được thực hiện kết hợp hài hòa giữa mở rộng phúc lợi xã hội với kinh tế thị trường tư nhân.
Trong nền kinh tế, kinh doanh lớn tuy nằm trong tay một nhóm nhỏ, nhưng sự phân hóa giàu – nghèo đần dần được thu hẹp.
Tuy vậy, việc giữ mức phúc lợi xã hội cao cho mọi công dân dần dần trở thành gánh nặng cho nền kinh tế; phúc lợi xã hội “nuốt“ mất 1/3 GNP; sự thiếu hụt ngân sách và cán cân thanh toán luôn trầm trọng; năng suất lao động và khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp giảm; lạm phát cao.
Do đó, từ giữa những năm 70 đến những năm 90 (thế kỷ XX) nền kinh tế ngày càng trở nên trì trệ.
Sau gần 50 năm thực hiện mô hình kinh tế thị trường “Xã hội phúc lợi“ với mức tiền lương cao và chế độ tiền lương mang tính bình quân, đến những năm 90, Thụy Điển đã phải đặt mục tiêu giảm lạm phát lên trên mục tiêu đảm bảo toàn dụng công nhân; giảm thuế thu nhập từ 72% xuống còn 50%; tăng thuế gián thu; cắt giảm bớt các khoản trợ cấp phúc lợi; tư nhân hóa trong các lĩnh vực dịch vụ => Nghĩa là một số đặc trưng của mô hình đã bị loại bỏ.
1. Mô hình kinh tế thị trường Bắc Âu:
Một “nhánh“ khác của kinh tế thị trường Bắc Âu là nền “Kinh tế thương lượng“.
Lý thuyết về nền “Kinh tế thương lượng“ ra đời vào những năm 80 của thế kỷ XX.
Khái niệm nền “Kinh tế thương lượng“ biểu thị một cơ chế kinh tế – xã hội mà ở đó phần lớn sự phân bổ các nguồn lực là dựa vào các cuộc thương lượng.
Thương lượng, do vậy, là công cụ để tìm kiếm các giải pháp trong phân bổ nguồn lực và trong phát triển; thương lượng giúp tìm được tiếng nói chung và đồng thời là kỹ thuật thông qua các quyết định; xây dựng các mối quan hệ và được thỏa hiệp trong phát triển.
Khác với các giải pháp cực quyền, các quyết định kinh tế dựa trên thương lượng không thể là căn cứ và đối tượng để áp dụng các hình phạt mà được dựa vào trách nhiệm ràng buộc về chính trị, đạo đức nhiều hơn là các quy chế pháp luật.
Cũng khác với quan hệ thị trường do các đại diện tư nhân thực hiện một cách độc lập trên cơ sở ưu thế và nguồn lực riêng của mình; các giải pháp kinh tế dựa trên thương lượng được đưa ra trong quá trình hình thành các ưu tiên một cách tự do.
Trong nền “Kinh tế thương lượng“, liên tục có các cuộc đấu tranh, các cuộc xung đột ở nhiều góc độ khác nhau và chúng được giải quyết khi các bên liên quan tìm được tiếng nói chung. Do đó, thương lượng là đấu tranh; thỏa hiệp và đấu tranh luôn đi liền với nhau.
Tất nhiên, trong nền “Kinh tế thương lượng“, thương lượng không phải là công cụ duy nhất, mà chỉ là một trong các công cụ để thông qua quyết định; các công cụ truyền thống đã và vẫn là những nguyên tắc của cơ chế thị trường.
Nghĩa là nền kinh tế vận hành với sự kết hợp giữa thương lượng và các công cụ của cơ chế thị truờng; các công cụ này bổ xung cho nhau, có thể cạnh tranh, cản trở và thậm chí lấn át lẫn nhau.
Hiện tại, có hai quan điểm khác nhau đối với nền “Kinh tế thương lượng”:
Những người ủng hộ thì cho rằng, thương lượng là kiểu mẫu lành mạnh; có hiệu quả; bảo đảm sự chính thống của các giải pháp và tính trung thực của các bên trong quá trình thực hiện.
Phái “Tự do mới“ cho rằng, cần phải thay thế thương lượng bằng các nguyên tắc của thị trường, vì kinh tế thương lượng không uyển chuyển và không hiệu quả. Những nhà “Dân chủ“ thì phê bình rằng, kết quả thương lượng là không hợp pháp, không chính thống, cần thay thế các cuộc thương lượng bằng Nghị trường, là hình thức đại diện hợp pháp duy nhất của chính quyền.
Tuy vậy, dù ủng hộ hay phản đối nền “Kinh tế thương lượng“, thì một mặt cũng phải thừa nhận rằng, quá trình hình thành nền “Kinh tế thương lượng” ít nhất, cũng là một trong những nhân tố giúp kinh tế các nước Bắc Âu thích ứng một cách dễ dàng và tương đối thành công với những thay đổi trên thị trương thế giới; nhưng mặt khác hiện nay, vẫn chưa có một lý thuyết thỏa đáng, đầy đủ về nền “ Kinh tế thương lượng”.
2. Mô hình kinh tế thị trường Nhật Bản:
Kinh tế thị trường Nhật Bản đã tiến triển qua nhiều giai đoạn khác nhau và trở thành một trong những nền kinh tế thị trường hiện đại mà nhiều người coi là mẫu mực cho các nước phát triển sau noi theo.
Thời Phục Minh Trị. Đây là thời kỳ đã thực hiện những cải cách phi thường về chính trị, kinh tế và xã hội. Trước hết, hệ thống chính trị phi tập trung hóa được bãi bỏ để tạo ra sự thống nhất về chính trị của đất nước. Một Nhà nước tập trung được thành lập.
Về kinh tế và xã hội, sự phân chia xã hội thành các đẳng cấp cha truyền con nối bị thủ tiêu, thay vào đó là một xã hội hướng vào thành tựu; những người có tài và có năng lực đều có cơ hội tiến thân trong xã hội, bất chấp nguồn gốc xuất thân của họ.
Song song với việc thủ tiêu hệ thống đẳng cấp, các quy tắc và luật lệ phong kiến hạn chế quyền tự do kinh tế cũng được bãi bỏ; các biện pháp tích cực thúc đẩy cơ sở hạ tầng được thực hiện, đặc biệt là hệ thống giao thông vận tải; đẩy mạnh việc cải cách hệ thông tài chính – tiền tệ, trong đó đặc biệt là cải cách hệ thông thuế; thuế hiện vật được thay bằng thuế tiền, chế độ tiền tệ Tokagaoa được thay thế bằng một đồng tiền hợp lý và chuẩn hóa cho cả nước, việc phát hành tiền thuộc độc quyền của Chính phủ Trung ương.
Nhà nước tập trung mạnh cho đầu tư giáo dục; Chính phủ đồng thời khuyến khích tư nhân đầu tư phát triển các ngành công nghiệp hiện đại gắn liền với thực hiện tư nhân hóa các doanh nghiệp Nhà nước; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để tiếp thu tư tưởng và kỹ thuật mới nhằm hiện đại hóa đất nước
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, kinh tế Nhật Bản phục hồi và đạt được sự tăng trưởng “thần kỳ“.
Giai đoạn này gọi là nền kinh tế thị trường có hướng dẫn. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế Nhật Bản thời kỳ này là:
Chính phủ vừa thực hiện chính sách tạo điều kiện cho tư nhân tư do kinh doanh thuận lợi; vừa loại bỏ những yếu tố không hoàn thiện của thị trường.
Chính phủ đảm trách chi phí đầu tư cho những ngành công nghiệp không có lãi nhưng rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế như: xây dựng cơ sở hạ tầng, văn hóa, giáo dục…
Sự hợp tác giữa Chính phủ và tư nhân trong phát triển kinh tế được thực hiện một cách thường xuyên và chặt chẽ.
Chính phủ coi trọng công cụ kế hoạch hóa gián tiếp trong điều tiết, quản lý nền kinh tế quốc dân.
Tóm lại, sự phát triển kinh tế thị trường Nhật Bản:
Thực hiện dân chủ hóa kinh tế gắn liền với dân chủ hóa chính trị và xã hội.
Kinh tế thị trường không có nghĩa là nền kinh tế vô Chính phủ. Vì vậy cần có sự can thiệp, điều tiết của Nhà nước. Thời kỳ đầu tiên phát triển kinh tế thị trường, Chính phủ Nhật Bản can thiệp trực tiếp rộng rãi và khá sâu vào nền kinh tế, nhưng sự can thiệp đó của Nhà nước càng về sau càng giảm dần.
Ngoài việc giải thoát về tư tưởng và đảm bảo quyền tự do kinh doanh, phải không ngừng chú trọng phát triển giáo dục – đào tạo.
Tăng cường và chủ động mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.
Tuy vậy, thời gian gần đây người ta bắt đầu đặt vấn đề về sự can dự quá nhiều của Chính phủ vào những lĩnh vực cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng vì tính hiệu quả giảm sút của sự can dự này.
3. Kinh tế thị trường ở các quốc gia và vùng lãnh thổ NICS Châu Á:
Thứ nhất, vai trò của doanh nhân dưới sự điều tiết của “bàn tay thị trường“ được đề cao trong phát triển kinh tế. Vì vậy Nhà nước tập trung vào việc thực thi hệ thống chính sách nhất quán để tạo môi trường cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển, coi khu vực kinh tế tư nhân là hạt nhân của kinh tế thị trường, là giường cột và động lực của nền kinh tế.
Thứ hai, xác định và thực thi vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường. Chính phủ các quốc gia và vùng lãnh thổ NICS Châu Á hạn chế sự tham gia vào hoạt động kinh doanh. Vì vậy tỷ trọng của khu vực kinh tế Nhà nước luôn rất nhỏ và sự tồn tại của khu vực kinh tế Nhà nước không bao giờ dẫn đến lấn át, chèn ép kinh tế tư nhân, mà là để giúp đỡ kinh tế tư nhân.
Chính phủ các quốc gia và vùng lãnh thổ NICS Châu Á rất chú trọng việc xây dựng Chính phủ mạnh và hiệu quả; đội ngũ công chức được đào tạo kỹ càng, chuyên nghiệp hóa cao, để thực thi nhiệm vụ; đề xuất và thực thi tốt những chính sách thông minh, sáng suốt. Do vậy, hoặc kích thích khả năng sáng tạo và chủ động của các công ty tư nhân; hoặc bảo vệ quyền lợi chính đáng của tư nhân trong các cuộc xung đột; hoặc điều hòa tốt lợi ích tư nhân với nhau; hoặc điều hòa được lợi ích tư nhân với lợi ích Chính phủ, lợi ích cục bộ với lợi ích toàn cục.
Chính phủ khi nâng đỡ cũng như khi trừng phạt, tất cả đều thực hiện một cách nhất quán, minh bạch trong khuôn khổ luật pháp quốc gia và công ước quốc tế
Thứ ba, khuyến khích “hướng ngoại” mạnh mẽ.
Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu được thực thi một cách nhất quán theo phương thức: vốn, kỹ thuật, phương pháp quản lý hiện đại là của các công ty xuyên quốc gia, còn lao động và nguyên liệu (một phần nào đó) là của nước sở tại và thị trường tiêu thụ là các nước công nghiệp phát triển. Gắn liền song song với phương thức phát triển như vậy là hệ thống giải pháp, chính sách để khuyến khích xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài rất hữu hiệu.
Thực tiễn NICS Châu Á chứng minh rằng, mở cửa kinh tế; gắn sự phát triển kinh tế trong nước với kinh tế thế giới, gắn sự phát triển thị trường trong nước với thị trường thế giới là con đường phát triển có hiệu quả nhất trong thời đại ngày nay.
Thứ tư, phát triển các hoạt động nghiên cứu – ứng dụng – triển khai tiến bộ khoa học – công nghệ.
Chính phủ NICS Châu Á rất chú trọng đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai khoa học – công nghệ (thường từ 1,5 – 2% GNP) để gia tăng nhanh chóng năng lực khoa học – công nghệ quốc gia. Trong phát triển khoa học – công nghệ, bước đi của NICS Châu Á là, lúc đầu chủ yếu thực hiện sao chép, bắt chước và khi đã làm chủ được một số công nghệ phức tạp thì Chính phủ tăng đầu tư cho các phòng thí nghiệm và nghiên cứu; đẩy nhanh việc phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học, chất xám cao; nhờ đó tăng nhanh tỷ lệ giá trị gia tăng, tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm và của toàn bộ nền kinh tế.
Thứ năm, đẩy mạnh sự hình thành và phát triển các loại thị trường, đặc biệt là thị trường tài chính – tiền tệ và thị trường sức lao động; gắn với củng cố, kiện toàn và hiện đại hóa hệ thống tài chính, ngân hàng.
Tóm lại, các quốc gia, vùng lãnh thổ NICS Châu Á, một mặt vừa rất tôn trọng những nguyên tắc, quy luật, thể chế thị trường; vừa xác định đúng giới hạn về sự can thiệp vào kinh tế của Nhà nước và không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước
4. Kinh tế thị trường ở Trung quốc
Trước hết, về phương diện lý luận, quan điểm chính thống cho rằng, kinh tế thị trường là thành quả của văn minh nhân loại, là thủ đọan kinh tế có hiệu quả cao, nó không có vấn đề “họ xã“ hay “họ tư “; mọi quốc gia đều cần sử dụng nó. Song vẫn có sự phân biệt về bản chất giữa “kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa“ và “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa“.
Sự phân biệt này chủ yếu thể hiện ở hai mặt: cơ sở của chế độ sở hữu và chế độ phân phối.
Với sở hữu, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa lấy sở hữu tư nhân làm cơ sở, còn kinh tế thị trường Xã hội chủ nghĩa lấy sở hữu công cộng làm cơ sở.
Tuy vậy, lấy sở hữu công cộng làm cơ sở không có nghĩa là sở hữu công cộng thuần nhất, tuyệt đối, mà sở hữu công cộng ở những ngành, những lĩnh vực nào nhằm giữ vai trò chủ đạo đối với các hình thức sở hữu khác như : cá thể, tư nhân, hỗn hợp. Và cũng không có nghĩa là, kinh tế công hữu phải có tỷ trọng lớn, vì tỷ trọng cho từng ngành kinh tế đến đâu cho thích hợp là trên góc độ có lợi cho sự phát triển của sức sản xuất.
Về chế độ phân phối, khẳng định, kết quả cuối cùng của kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa không nhằm tập trung tài sản vào trong tay một số ít cá nhân như kinh tế thị trường Tư bản chủ nghĩa, mà nhằm đem lại sự sung túc chung cho mọi tầng lớp dân cư. Chủ nghĩa xã hội lấy phân phối theo lao động là chính, nhưng cũng chấp nhận các hình thức phân phối khác.
Phân đoạn một cách tương đối, thì quá trình chuyển sang kinh tế thị trường của Trung Quốc (từ tháng 12-1978 đến nay) có thể chia thành 4 giai đoạn và được thực hiện tập trung vào những vấn đề chính như sau:
Thứ nhất, thay đổi phương thức quản lý, từ kế hoạch hóa tập trung sang quản lý theo nguyên tắc của kinh tế thị trường, mà hạt nhân là từ bỏ cách Chính phủ trực tiếp quản lý nền kinh tế, thực hiện quản lý gián tiếp từ sản xuất kinh doanh đến lĩnh vực phân phối; tách chức năng quản lý hành chính ra khỏi chức năng kinh doanh; tách quyền sở hửu với quyền kinh doanh; mở rộng quyền tự chủ cho các địa phương và các doanh nghiệp Nhà nước theo phương thức “đẩy xí nghiệp ra thị trường“.
Thứ hai, cải cách giá. Đây là khâu quan trọng nhất và cũng gay go nhất trong quá trình chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường. Quá trình tự do hóa giá cả được thực hiện qua các giai đoạn khác nhau. Từ việc điều chỉnh giá nhiều mặt hàng theo chế độ hai giá là, giá quy định và giá hướng dẫn, đồng thời thả nổi giá cả hàng nông sản và hàng công nghiệp nhẹ; cho đến việc bãi bỏ tem phiếu, thực hiện giá cả thị trường tự do với nhiều loại nguyên, vật liệu; thừa nhận tư liệu sản xuất, thông tin khoa học, kỹ thuật, tiền tệ, sức lao động, đất đai… là hàng hóa. Tới nay, khoảng 75% vật tư và toàn bộ hàng nông sản là do thị trường quyết định giá; hàng tiêu dùng do Nhà nước chỉ định giá chỉ chiếm khoảng 10% tổng doanh thu.
Thứ ba, hình thành và phát triển thị trường các yếu tố sản xuất. Chính phủ ban hành luật pháp và các chính sách để thúc sự hình thành và phát triển các loại thị trường như : thị trường kỹ thuật, vật tư, vốn, sức lao động, đất đai… Sự xuất hiện và phát triển hệ thống thị trường đã làm cho cơ chế thị trường của Trung Quốc hoạt động ngày càng linh hoạt, mềm dẻo và rộng khắp trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Thứ tư, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của mọi thành phần kinh tế; thừa nhận một cách chính thức sự tồn tại lâu dài và khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế thị trường mang màu sắc Trung Quốc. Đồng thời đẩy mạnh quá trình cấu trúc lại kinh tế Nhà nước. Vì vậy kinh tế tư nhân trong nước ngày càng được khuyến khích phát triển mạnh bằng những chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng… và được liên doanh, liên kết với kinh tế nước ngoài.
Thứ năm, hình thành phong cách kinh doanh thích ứng với kinh tế thị trường và kinh doanh quốc tế; tự do hóa thương mại; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, gia nhập WTO.
Cơ sở lý thuyết của vai trò nhà nước về kinh tế
Câu hỏi đặt ra là nếu thị trường tự do cho phép phân bổ các nguồn lực có hiệu quả thì tại sao Nhà nước lại cần can thiệp vào hoạt động kinh tế?
Tại sao các nước không thực hiện một chính sách hoàn toàn tự do (laisser-fair) để mặc tư nhân kinh doanh?
Câu trả lời là: Mặc dù không thể thay thị trường, nhưng nhà nước có thể hoàn thiện các hoạt động thị trường.
Cơ sở lý thuyết của vai trò nhà nước về kinh tế
Cơ sở lý thuyết của vai trò nhà nước về kinh tế
Lý thuyết bàn tay vô hình, trong tác phẩm Của cải của các dân tộc – Vai trò Nhà nước:
Xây dựng và bảo đảm môi trường hòa bình, không để xảy ra nội chiến, ngoại xâm
Thực hiện được vai trò là trọng tài, đem lại quyền tự do, bình đằng cho người dân. vai trò này gắn với 2 nhiệm vụ:
Bằng hệ thống luật pháp, Nhà nước phải đảm bảo quyền căn bản của mọi công dân mà trước hết là quyền tư hữu (sở hữu cá nhân) gắn với những điều kiện có tính nền tảng: tự do kinh tế, tự do ký kết hợp đồng, tự do cư trú,...
Nhà nước phải thông qua hệ thống pháp luật, dùng nó để điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội, khắc phục và hạn chế những thủ đoạn cạnh tranh phi kinh tế, phi đạo đức.
Cung cấp, duy trì và phát triển hàng hóa công cộng.
Tất cả các vấn đề còn lại đều có thể giải quyết ổn thỏa nhịp nhàng bởi bàn tay vô hình;
Cơ sở lý thuyết của vai trò nhà nước về kinh tế
Lý thuyết tổng quát về việc làm, tiền tệ và lãi suất – J.M Keynes (1936) quan điểm ủng hộ Nhà nước có vai trò can thiệp vào thị trường mới được chấp nhận một cách rộng rãi. Lý do là:
Bàn tay vô hình cần được Chính phủ bảo vệ bởi vì thị trường chỉ vận hành tốt nếu như quyền sở hữu được tôn trọng => chúng ta đều dựa vào công an và toà án do Chính phủ cung cấp để thực thi quyền của chúng ta đối với những thứ do chúng ta tạo ra.
Mặc dù thị trường là phương thức tốt để tổ chức hoạt động kinh tế, nhưng quy tắc cũng có một vài ngoại lệ. Trong một số trường hợp, bản thân thị trường không thể mang lại những kết quả đáng mong muốn cho toàn xã hội. Khi điều này xảy ra, các nhà kinh tế nói THỊ TRƯỜNG ĐÃ THẤT BẠI.
Thuật ngữ “Thất bại thị trường” không có nghĩa là không có điều gì tốt đẹp được thực hiện, mà nó chỉ hàm ý rằng những kết quả tốt nhất lẽ ra có thể đạt được lại không được thực hiện.
Thuật ngữ “Thất bại thị trường” thường được sử dụng trong 2 tình huống:
Thất bại thị trường do thị trường không thể phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả;
Thất bại thị trường được ở những hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu xã hội bên cạnh mục tiêu hiệu quả kinh tế.
Thất bại trong việc phân bổ các nguồn lực có hiệu quả
Cạnh tranh không hoàn hảo: Adam Smith chỉ dựa trên giả thuyết về thị trường cạnh tranh hoàn hảo; Trên thực tế, quá trình tích tụ và tập trung tư bản có thể dẫn đến độc quyền hoặc các hình thái kiểm soát thị trường ở các mức độ khác nhau = > Hầu hết các nền kinh tế thị trường đều thông qua đạo luật cạnh tranh.
Hàng hóa công cộng: Vì hàng hóa công cộng có 2 đặc tính: tính không cạnh tranh trong tiêu dùng và tính không loại trừ. Do vấn đề người sử dụng miễn phí, nên khu vực tư nhân không có động cơ cung ứng hàng hóa công;
Ngoại ứng: Ngoại ứng phát sinh khi hành cộng của một cá nhân có ảnh hưởng đến phúc lợi của người ngoài cuộc, nhưng lại không phải trả bất kỳ khoản bồi thường nào cho ảnh hưởng này.
Thông tin không cân xứng: Nhiều khi cuộc sống, một số người có được thông tin nhiều hơn người khác, và sự khác biệt về thông tin có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn mà mọi người đưa ra cũng như cách thức tương tác giữa họ với những người xung quanh.
Chu kỳ kinh doanh: do làn sóng lạc quan hay bi quan thái quá của các doanh nghiệp ảnh hưởng đến tổng đầu tư.
Giải thích thêm – Thất bại trong phân bổ các nguồn lực hiệu quả
Các mục tiêu xã hội khác
Có một số mục tiêu hoàn toàn phi kinh tế, các giá trị mọi người cần chia sẻ:
Lòng yêu nước
Niềm tin vào tự do
Cơ sở lý thuyết của vai trò nhà nước về kinh tế
Trên cơ sở những thất bại của thị trường, Nhà nước thường được khuyến nghị nên thực hiện các chức năng chủ yếu sau:
a) Xác lập các điều kiện cần thiết về thể chế pháp lý cho việc sản xuất và trao đổi hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả việc bảo vệ quyền sở hữu và trách nhiệm thực hiện hợp đồng;
b) Hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô;
c) Cung cấp cơ sở hạ tầng vật chất;
d) Kiểm tra và giám sát các hoạt động kinh tế;
e) Tham gia trực tiếp vào sản xuất hàng hóa và dịch vụ.
Thảo luận xem các vấn đề c, d, e
Phê phán của lý thuyết tân cổ điển về vai trò quản lý Nhà nước về kinh tế
Phê phán
Trong việc cung ứng cơ sở hạ tầng, xây dựng và vận hành hệ thống viễn thông, cung cấp các dịch vụ công cộng như điện và nước => nhà nước cần khai thông tiềm năng của khu vực tư nhân, không phải là một nguồn thay thế mà là một nguồn bổ sung cho Nhà nước trong việc cung ứng kết cấu hạ tầng;
Can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh tế của khu vực tư nhân (ưu đãi đầu tư, bảo hộ ngành sản xuất trong nước);
Sự can thiệp trực tiếp của nhà nước trong lĩnh vực sản xuất.
Phê phán của lý thuyết tân cổ điển về vai trò quản lý Nhà nước về kinh tế
Các nguyên nhân chính gây ra Thất bại của Chính phủ:
Nhà nước gắn với quyền lực, từ việc hình thành luật pháp đến việc thực thi pháp luật với một bộ máy hành pháp và tư pháp đồ sộ, do vậy khuynh hướng phổ biến là quan liêu, sách nhiễu bằng các thủ tục hành chính phức tạp, rối rắm.
Các nhà chính trị và các tác nhân khác nhạy bén và tư lợi liên kết để kiểm soát việc phân bổ nguồn lực theo lợi ích của họ.
Hành vi tham nhũng trong giới chính trị gia và các quan chức chính phủ;
Không có hoặc thiếu các nhân viên có đủ năng lực với sự hiểu biết cần thiết về kinh tế các hoạt động kinh doanh;
Thiếu kiến thức về khu vực tư nhân và cách thức hoạt động của khu vực này.
-> Các nhà tân cổ điển đề nghị: nên tối thiểu hóa vai trò của Nhà nước: Nhà nước cần càng can thiệp càng ít càng tốt. Nhà nước nên để cho cơ chế giá cả trong các thị trường cạnh tranh xác định sản xuất cái gì và sản xuất bao nhiêu.
Module3: Cách tiếp cận mới về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Những ý kiến gần đây về Nhà nước đã chỉ ra rằng sự phân đôi kiểu tân cổ điển – Nhà nước hay thị trường, công cộng hay tư nhân – thất bại ở hai khía cạnh:
Giữa Nhà nước và thị trường, công cộng và tư nhân không có một ranh giới rõ ràng. ở hầu hết các nước, giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân “thuần tuý” là các loại hình liên doanh chồng chéo; các doanh nghiệp nhà nước có ban quản lý được thuê từ tư nhân; các hãng tư nhân hoạt động với các đặc quyền của nhà nước,...;
Các thị trường đòi hỏi một khuôn khổ pháp lý và điều tiết mà chỉ Chính phủ mới có thể cung cấp. Các quyền và trách nhiệm pháp lý cũng quan trọng như hệ thống trao đổi hàng hoá của thị trường.
=> Nhà nước và thị trường ở các nước đang phát triển đều không hoạt động đúng như các giả định và giả thuyết của các lý thuyết.
Như vậy, vấn đề đặt ra không chỉ đơn thuần là sự lựa chọn nhà nước hay thị trường. Nói cách khác, mối quan tâm hàng đầu là xác định sự phân công hợp lý giữa Nhà nước và thị trường nhằm khai thác triệt để những lợi thế, đồng thời tránh được hoặc giảm thiểu những thất bại của cả Nhà nước lẫn thị trường.
Quan điểm của nhiều nhà kinh tế hiện đại là quy mô tuyệt đối của khu vực nhà nước và mức độ can thiệp của Nhà nước không quan trọng bằng cách thức hoạt động của Nhà nước và các loại quan hệ mà Nhà nước thiết lập với khu vực tư nhân.
Theo quan điểm này, nội dung quan trọng trong các chương trình cải cách theo hướng thị trường là phải xác định được xem hoạt động can thiệp nào của Chính phủ nên giữ nguyên, thương mại hoá, tư nhân hoá, phân cấp tới các chính quyền địa phương, hoặc chấm dứt hoàn toàn.
Để đánh giá các hoạt động can thiệp của Nhà nước: xem có tính khả thi về kinh tế hay chính trị hay không?
Tính khả thi kinh tế: nhiệm vụ quan trọng là thiết lập một mối quan hệ hoạt động giữa khu vực nhà nước và tư nhân. WB cho rằng: Nhà nước nên ít tham gia vào những lĩnh vực mà thị trường vận hành tốt; và nên tham gia nhiều vào các lĩnh vực không thể dựa vào thị trường. Khi các hành động là cần thiết, chúng nên đi cùng hoặc thông qua các lực lượng thị trường chứ không phải chống lại thị trường.
Tính khả thi chính trị: điều quan trọng là phải xem liệu có khả năng huy động được sự hỗ trợ đủ lớn cho những cải cách chính sách đã được đề xuất hay không.
Cách thiết lập mối quan hệ hoạt động này với khu vực tư nhân sẽ cho phép Chính phủ bù đắp được bất kỳ những thất bại thị trường nào bằng cách chi trả cho những hàng hoá và dịch vụ đặc biệt quan trọng đối với xã hội, thậm chí khi chúng không thể sản xuất và bán trên góc độ thương mại. Mối quan hệ hoạt động này cho phép Chính phủ chi trả cho một số đối tượng xã hội không có được sức mua cần thiết và cung cấp một mạng lưới an sinh cho người nghèo.
Vấn đề tư nhân hoá: Theo Lý thuyết này, bản thân tư nhân hoá không được coi là mục đích, mà nó là phương tiện để đạt được các mục tiêu khác, bao gồm việc cung cấp cơ sở hạ tầng hoặc dịch vụ công cộng một cách hiệu quả đối với người dân. Quá trình tư nhân hoá phụ thuộc vào các nguồn lực và trình độ quản lý của khu vực tư nhân trong việc vận hành các doanh nghiệp liên quan. Tính không hiệu quả của khu vực công cộng không thể đơn thuần thay thế bằng tính không hiệu quả của khu vực tư nhân. Quá trình này phụ thuộc vào việc liệu khuôn khổ pháp lý cần thiết và các điều kiện khác, bao gồm môi trường cạnh tranh và năng lực quản lý của khu vực tư nhân, có tồn tại hay không.
Liên quan đến việc phân cấp và thúc đẩy sự phát triển khu vực tư nhân, Chính phủ có thể lựa chọn giữa hai thái cực chính sách và hàng loạt các cách kết hợp:
Các chính sách hoạt động chủ yếu thông qua các lực lượng thị trường;
Các chính sách kiểm soát và mệnh lệnh hoạt động dưới sự quản lý của Chính phủ nhờ đó hàng hoá và dịch vụ được sản xuất theo các ưu tiên và quy trình được xác định trước về mặt chính trị, do vậy phần nào thay thế các cơ chế thị trường.
Thứ Năm, 19 tháng 8, 2010
KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO
Module 1: Đổi mới tư duy quản lý và quản lý sự thay đổi
“Đổi mới tư duy, Đổi thay thế giới”.
Khoa học tâm lý chỉ ra rằng, tư duy của con người ta được chỉ đạo và xử lý tự động bởi những niềm tin và giả định đã ăn sâu vào tiềm thức.
Hơn nữa, qui trình này lại nằm trong vòng xoáy tự gia cường: con người thông qua cách tư duy của mình thường chỉ chọn lọc những thông tin phù hợp với cách nghĩ của mình, do vậy niềm tin và giả định đã có ngày càng được gia cường; kết quả là cách tư duy (cũ) này ngày càng trở nên vững chắc.
"Gieo hạt tư tưởng, thu hoạch hành vi; gieo hạt hành vi, thu hoạch tập quán; gieo hạt tập quán, thu hoạch tính cách; gieo hạt tính cách, thu hoạch vận mệnh."
V=Vision, có nghĩa là tầm nhìn;
I=Integrity, có nghĩa là sự chính trực;
E=Energy, có nghĩa là nghị lực;
T=Talent, có nghĩa là tài năng;
N=Nationalism, có nghĩa là tinh thần dân tộc;
A=Aspiration, có nghĩa là hoài bão; và
M=Mutuality, có nghĩa là tình cảm cộng đồng và tinh thần đồng đội”.
Suy nghĩ
Có một chai rượu nho, nút bần trên miệng chai không mở được. Vậy làm thế nào để uống được chai rượu nho này mà không cần đập vỡ chai, cũng không xoi qua lỗ nút chai?
Hai tù nhân tìm cách vượt ngục bằng cách đào một đường hầm ngầm dưới lòng đất từ xà lim rộng 80 feet, nơi họ đang bị giam giữ. Họ đã giấu đất đá đào lên từ dưới đất ở đâu?
Nguyên tắc sáng tạo
1) Nguyên tắc phân nhỏ
a) Chia đối tượng thành các phần độc lập. b) Làm đối tượng trở nên tháo lắp được. c) Tăng mức độ phân nhỏ đối tượng.
2) Nguyên tắc “tách khỏi”
a) Tách phần gây “phiền phức” ( tính chất “phiền phức” ) hay ngược lại tách phần duy nhất “cần thiết” ( tính chất “cần thiết” ) ra khỏi đối tượng.
3) Nguyên tắc phẩm chất cục bộ
a) Chuyển đối tượng ( hay môi trường bên ngoài, tác động bên ngoài) có cấu trúc đồng nhất thành không đồng nhất. b) Các phần khác nhau của đối tượng phải có các chức năng khác nhau. c) Mỗi phần của đối tượng phải ở trong những điều kiện thích hợp nhất đối với công việc.
4) Nguyên tắc phản đối xứng
Chuyển đối tượng có hình dạng đối xứng thành không đối xứng ( nói chung giãm bật đối xứng).
Nguyên tắc sáng tạo
5) Nguyên tắc kết hợp
a) Kết hợp các đối tượng đồng nhất hoặc các đối tượng dùng cho các hoạt động kế cận. b) Kết hợp về mặt thời gian các hoạt động đồng nhất hoặc kế cận. 6) Nguyên tắc vạn năng đối tượng thực hiện một số chức năng khác nhau, do đó không cần sự tham gia của các đối tượng khác.
7) Nguyên tắc “chứa trong”
a) Một đối tượng được đặt bên trong đối tượng khác và bản thân nó lại chứa đối tượng thứ ba … b) Một đối tượng chuyển động xuyên suốt bên trong đối tượng khác.
8. Nguyên tắc phản trọng lượng
a) bù trừ trọng lượng của đối tượng bằng cách gắn nó với các đối tượng khác có lực nâng. b) Bù trừ trọng lượng của đối tượng bằng tương tác với môi trường như sử dụng các lực thủy động, khí động…
9) Nguyên tắc gây ứng suất sơ bộ
Gây ứng suất trước với đối tượng để chống lại ứng suất không cho phép hoặc không mong muốn khi đối tượng làm việc ( hoặc gây ứng suất trước để khi làm việc sẽ dùng ứng suất ngược lại ).
Nguyên tắc sáng tạo
10) Nguyên tắc thực hiện sơ bộ
a) Thực hiện trước sự thay đổi cần có, hoàn toàn hoặc từng phần, đối với đối tượng. b) Cần sắp xếp đối tượng trước, sao cho chúng có thể hoạt động từ vị trí thuận lợi nhất, không mất thời gian dịch chuyển.
11) Nguyên tắc dự phòng
Bù đắp độ tin cậy không lớn của đối tượng bằng cách chuẩn bị trước các phương tiện báo động, ứng cứu, an toàn.
12) Nguyên tắc đẳng thế
Thay đổi điều kiện làm việc để không phải nâng lên hay hạ xuống các đối tượng.
13) Nguyên tắc đảo ngược
a) Thay vì hành động như yêu cầu bài toán, hành động ngược lại ( ví dụ, không làm nóng mà làm lạnh đối tượng) b) Làm phần chuyển động của đối tượng ( hay môi trường bên ngoài ) thành đứng yên và ngược lại, phần đứng yên thành chuyển động.
14) Nguyên tắc cầu ( tròn ) hoá
a) Chuyển những phần thẳng của đối tượng thành cong, mặt phẳng thành mặt cầu, kết cấu hình hộp thành kết cấu hình cầu. b) Sử dụng các con lăn, viên bi, vòng xoắn. c) Chuyển sang chuyển động quay, sử dụng lực ly tâm.
15) Nguyên tắc linh động
a) Cần thay đổi các đặt trưng của đối tượng hay môi trường bên ngoài sao cho chúng tối ưu trong từng giai đoạn làm việc. b) Phân chia đối tượng thành từng phần, có khả năng dịch chuyển với nhau.
Nguyên tắc sáng tạo
16) Nguyên tắc giải “thiếu” hoặc “thừa”
Nếu như khó nhận được 100% hiệu quả cần thiết, nên nhận ít hơn hoặc nhiều hơn “một chút”. Lúc đó bài toán có thể trở nên đơn giản hơn và dễ giải hơn.
17) Nguyên tắc chuyển sang chiều khác
a) Những khó khăn do chuyển động ( hay sắp xếp) đối tượng theo đường (một chiều) sẽ được khắc phục nếu cho đối tượng khả năng di chuyển trên mặt phẳng ( hai chiều). Tương tự, những bài toán liên quan đến chuyển động ( hay sắp xếp) các đối tượng trên mặt phẳng sẽ được đơn giản hoá khi chuyển sang không gian (ba chiều). b) Chuyển các đối tượng có kết cấu một tầng thành nhiều tầng. c) Đặt đối tượng nằm nghiêng. d) Sử dụng mặt sau của diện tích cho trước. e) Sử dụng các luồng ánh sáng tới diện tích bên cạnh hoặc tới mặt sau của diện tích cho trước.
18) Nguyên tắc sử dụng các dao động cơ học
a) Làm đối tượng dao động. Nếu đã có dao động, tăng tầng số dao động ( đến tầng số siêu âm). b) Sử dụng tầng số cộng hưởng. c) Thay vì dùng các bộ rung cơ học, dùng các bộ rung áp điện. d) Sử dụng siêu âm kết hợp với trường điện từ.
19) Nguyên tắc tác động theo chu kỳ
a) Chuyển tác động liên tục thành tác động theo chu kỳ (xung). b) Nếu đã có tác động theo chu kỳ, hãy thay đổi chu kỳ. c) Sử dụng các khoảng thời gian giữa các xung để thực hiện tác động khác.
20) Nguyên tắc liên tục tác động có ích
a) Thực hiện công việc một cách liên tục ( tất cả các phần của đối tượng cần luôn luôn làm việc ở chế độ đủ tải ). b) Khắc phục vận hành không tải và trung gian. c) Chuyển chuyển động tịnh tiến qua lại thành chuyển động quay.
Nguyên tắc sáng tạo
21) Nguyên tắc “vượt nhanh”
a) Vượt qua các giai đoạn có hại hoặc nguy hiểm với vận tốc lớn. b) Vượt nhanh để có được hiệu ứng cần thiết.
22) Nguyên tắc biến hại thành lợi
a) Sử dụng những tác nhân có hại ( thí dụ tác động có hại của môi trường) để thu được hiệu ứng có lợi. b) Khắc phục tác nhân có hại bằng cách kết hợp nó với tác nhân có hại khác. c) Tăng cường tác nhân có hại đến mức nó không còn có hại nữa.
23) Nguyên tắc quan hệ phản hồi
a) Thiết lập quan hệ phản hồi b) Nếu đã có quan hệ phản hồi, hãy thay đổi nó.
24) Nguyên tắc sử dụng trung gian
Sử dụng đối tượng trung gian, chuyển tiếp.
25) Nguyên tắc tự phục vụ
a) đối tượng phải tự phục vụ bằng cách thực hiện các thao tác phụ trợ, sửa chữa. b) Sử dụng phế liệu, chát thải, năng lượng dư.
Nguyên tắc sáng tạo
26) Nguyên tắc sao chép ( copy)
a) Thay vì sử dụng những cái không được phép, phức tạp, đắt tiền, không tiện lợi hoặc dễ vỡ, sử dụng bản sao. b) Thay thế đối tượng hoặc hệ các đối tượng bằng bản sao quang học (ảnh, hình vẽ) với các tỷ lệ cần thiết. c) Nếu không thể sử dụng bản sao quang học ở vùng biẻu kiến ( vùng ánh sáng nhìn thấy được bằng mắt thường ), chuyển sang sử dụng các bản sao hồng ngoại hoặc tử ngoại.
27) Nguyên tắc “rẻ” thay cho “đắt”
Thay thế đối tượng đắt tiền bằng bộ các đối tượng rẻ có chất lượng kém hơn ( thí dụ như về tuổi thọ).
28) Thay thế sơ đồ cơ học
a) Thay thế sơ đồ cơ học bằng điện, quang, nhiệt, âm hoặc mùi vị. b) Sử dụng điện trường, từ trường và điện từ trường trong tương tác với đối tượng . c) Chuyển các trường đứng yên sang chuyển động, các trường cố định sang thay đổi theo thời gian, các trường đồng nhất sang có cấu trúc nhất định . d) Sử dụng các trường kết hợp với các hạt sắt từ.
29) Sử dụng các kết cấu khí và lỏng
Thay cho các phần của đối tượng ở thể rắn, sử dụng các chất khí và lỏng : nạp khí, nạp chất lỏng, đệm không khí, thủy tĩnh, thủy phản lực.
30) Sử dụng vỏ dẻo và màng mỏng
a) Sử dụng các vỏ dẻo và màng mỏng thay cho các kết cấu khối. b) Cách ly đối tượng với môi trường bên ngoài bằng các vỏ dẻo và màng mỏng.
Nguyên tắc sáng tạo
31) Sử dụng các vật liệu nhiều lỗ
a) Làm đối tượng có nhiều lỗ hoặc sử dụng thêm những chi tiết có nhiều lỗ ( miếng đệm, tấm phủ..) b) Nếu đối tượng đã có nhiều lỗ, sơ bộ tẩm nó bằng chất nào đó.
32) Nguyên tắc thay đổi màu sắc
a) Thay đổi màu sắc của đối tượng hay môi trường bên ngoài b) Thay đổi độ trong suốt của của đối tượng hay môi trường bên ngoài. c) Để có thể quan sát được những đối tượng hoặc những quá trình, sử dụng các chất phụ gia màu, hùynh quang. d) Nếu các chất phụ gia đó đã được sử dụng, dùng các nguyên tử đánh dấu. e) Sử dụng các hình vẽ, ký hiệu thích hợp.
33) Nguyên tắc đồng nhất
Những đối tượng, tương tác với đối tượng cho trước, phải được làm từ cùng một vật liệu ( hoặc từ vật liệu gần về các tính chất) với vật liệu chế tạo đối tượng cho trước.
34) Nguyên tắc phân hủy hoặc tái sinh các phần
a) Phần đối tượng đã hoàn thành nhiệm vụ hoặc trở nên không càn thiết phải tự phân hủy ( hoà tan, bay hơi..) hoặc phải biến dạng. b) Các phần mất mát của đối tượng phải được phục hồi trực tiếp trong quá trình làm việc.
35) Thay đổi các thông số hoá lý của đối tượng
a) Thay đổi trạng thái đối tượng. b) Thay đổi nồng độ hay độ đậm đặc. c) Thay đổi độ dẻo d) Thay đổi nhiệt độ, thể tích.
Nguyên tắc sáng tạo
36) Sử dụng chuyển pha
Sử dụng các hiện tượng nảy sinh trong quá trình chuyển pha như : thay đổi thể tích, toả hay hấp thu nhiệt lượng…
37) Sử dụng sự nở nhiệt
a) Sử dụng sự nở ( hay co) nhiệt của các vật liệu. b) Nếu đã dùng sự nở nhiệt, sử dụng với vật liệu có các hệ số nở nhiệt khác nhau.
38) Sử dụng các chất oxy hoá mạnh
a) Thay không khí thường bằng không khí giàu oxy. b) Thay không khí giàu oxy bằng chính oxy. c) Dùng các bức xạ ion hoá tác động lên không khí hoặc oxy. d) Thay oxy giàu ozon ( hoặc oxy bị ion hoá) bằng chính ozon.
39) Thay đổi độ trơ
a) Thay môi trường thông thường bằng môi trường trung hoà. b) Đưa thêm vào đối tượng các phần , các chất , phụ gia trung hoà. c) Thực hiện quá trình trong chân không.
40) Sử dụng các vật liệu hợp thành ( composite )
Chuyển từ các vật liệu đồng nhất sang sử dụng những vật liệu hợp thành ( composite). Hay nói chung, sử dụng các vật liệu mới.
Module 2: Quản lý và Lãnh đạo
XNQD đã tồn tại từ 1954 hay sớm hơn -> năm 1976 thì mô hình QLXN đã phát triển đến một mức nhất định trong khuôn khổ của chế độ bao cấp;
Nó có một số khuyết tật mà vào năm 1976, nghị quyết của các cuộc Hội nghị lần thứ 20 và 21 của Ban chấp hành Trung ương đã nêu ra và yêu cầu cải tiến như: phân tán, không đồng bộ, mất cân đối trong tổ chức sản xuất, hành chính, bao cấp, quan liêu, kém kỹ thuật, kém trách nhiệm.
Văn bản pháp luật đầu tiên quy định về XNQD là Nghị định 19/CP ngày 29/11/1976, tiếp theo là Nghị định 93/CP ngày 6/4/1977 =Bản điều lệ của xí nghiệp công nghiệp quốc doanh.
Đặc điểm của QLXN thời đó là không có sự phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý. => Vì thế đã có cải tiến vào năm 1981 với Quyết định 25/CP=> Việc này là hạ thấp vai trò quản lý ở tầm vĩ mô và mở rộng quyền tự chủ của cơ sở.
Đến năm 1988, QLXN ở XNQD đã được rành rọt hơn với Nghị định 50/HĐBT.Trong văn bản này: cơ cấu của XNQD gồm có đại hội công nhân viên chức, hội đồng xí nghiệp và giám đốc
Đến năm 1995, cơ cấu được cải tiến lần nữa trong Luật DNNN và gồm có giám đốc, bộ máy giúp việc (các phó giám đốc, kế toán trưởng và các phòng, ban chuyên môn, chức năng), đại hội công nhân viên chức, ban kiểm tra, các tổ chức chính trị xã hội.
Riêng ở trong các Công ty lớn có thêm hội đồng quản trị. Các quy định về QLXN trong luật đã được chi tiết hóa trong nhiều tài liệu (sau năm 1990).
Sự thuận tiện đã giúp ông quản lý chặt chẽ xí nghiệp. Ông cũng cần nó vì một nhu cầu tâm lý của mình. Ông đã được cử về xí nghiệp vì được tin tưởng của cấp trên nhiều hơn là tài năng của chính ông. Thành công của ông xuất phát nhiều từ lòng trung thành hơn là khả năng kinh doanh => Do vậy, ông phải nắm trọn vẹn và không ủy quyền cho ai quyết định cả Trong mô hình QLXN không có ý niệm ủy quyền mà QTKD coi trọng. Tuy nhiên, vì ôm đồm nên không biết nguyên tắc ấn định thẩm quyền, ông dễ dàng phong cho một người nhiều chức vụ. Một trưởng phòng có thể kiêm chức phó giám đốc kiêm thư ký công đoàn...
Thế nhưng, nếu do áp lực phát sinh từ tổ chức chính trị nội bộ Công ty ông sẵn sàng chia quyền. Ông giám đốc luôn luôn có một ông phó bên cạnh. Có khi ông phó có uy hơn ông giám đốc về mặt chính trị. Vì thế để cho yên ổn, ông thỏa hiệp bằng cách chia cho ông phó toàn quyền phụ trách một mảng công việc nào đó trong xí nghiệp.
Việc giám đốc không quan tâm đến chuyện ủy quyên cũng vì có một tiền lệ ấy là nguyên lý tổ chức của ủy ban 1 nhân dân, nơi thống lĩnh một địa bàn. Ở đó chỉ có chủ tịch quyết định, các giám đốc sở là tham mưu. Như thế, mô hình QLXN hoạt động theo các nguyên tắc của một cơ quan hành chính.
Ngoài ra, do cơ cấu tổ chức của xí nghiệp, “bộ tứ” chẳng hạn, không có ai vượt trội để ảnh hưởng đến người khác bằng cung cách làm việc, trong cách thức đối xử với nhân viên, nên XNQD không thể thiết lập được văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp nếu có thì các nơi đều giống nhau. Thí dụ, khi xí nghiệp có vấn đề gì liên quan đến công luận thì người xuất hiện thường là phó giám đốc.
Từ quản lý theo mục tiêu đến quản lý theo quá trình tiến tới ISO= QTKD2
Với sự đồng bộ của QTKD1, người ta giải quyết được vấn đề hữu hiệu và hiệu quả của sản xuất.
Tuy nhiên, do yêu cầu khách hàng, họ phải cạnh tranh và phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm không chỉ đạt mà còn phải gia tăng chất lượng.
Nói gì thì nói, muốn làm tăng chất lượng thì trước hết phải giữ cho cái hiện có không tụt xuống,như thế nghĩa là hàng sản xuất ngày hôm nay ít nhất vẫn phải có chất lượng như món hàng đó giao cách đây nửa năm.
Khởi đầu nhưng món hàng dễ gây nguy hiểm như máy bay, vũ khí, người ta đặt ra yêu cầu đạt và duy trì chất lượng. Sau đó yêu cầu này được mở rộng ra cho các loại hàng hóa khác. Và để làm việc này thì các tiêu chuẩn về chất lượng đã được đặt ra và ISO chính thức ra đời năm 1987.
Nội dung chính thức của nó là “xây dựng hệ thống chất lượng và phòng ngừa”.
Cách làm là: (1) đạt chất lượng đòi hỏi và (2) giữ không cho giảm sút trong những lần sản xuất khác nhau.
Việc đầu do các cơ quan chính quyền hay các hiệp hội chuyên ngành đưa ra.
ISO hiện diện trong các doanh nghiệp để làm việc 2. Nền tảng cua nó vẫn là QTKD1. Từ cái nền này, ISO phát động hai công tác mới:
Thứ nhất, đưa ra một cách nhìn khác về việc sản xuất. Nó coi việc sản xuất không chỉ thuần túy là những động tác chân tay, sản lượng ... mà thêm vào đó mục đích của công việc cái mà công việc phải đạt tới, và được gọi là chất lượng. Đấy là triết lý của ISO.
Thứ hai, chất lượng kia chắc chắn không chỉ phục vụ người sản xuất mà còn phục vụ người tiêu dùng. => Từ yêu cầu thực tế này, ISO đưa triết lý của vào trong quá trình sản xuất và đến tận từng người.
Trước kia khi sản phẩm nằm trên dây chuyền sản xuất và được giao từ người thợ này sang người thợ khác thì đó là công việc được chuyển giao giữa hai người, thí dụ từ B sang C.
Bây giờ vẫn như thế nhưng do gọi C là khách của B. Vẫn người cũ nhưng có tên mới, từ đồng nghiệp C trở thành khách hàng của B. Đó là một sự thay đổi khiến tạo ra một tác động tâm lý trong B, anh ta bị một ràng buộc về tâm lý là phải làm cho hàng của mình đạt chất lượng để không bị C là khách hàng từ chối. Đó là cách hành động của ISO.
Sản xuất là một vòng tròn khép kín dẫu nó trải ra trên nhiều xưởng khác nhau và ở những vùng khác nhau. Vậy nếu C là khách của B, thì B cũng sẽ là khách của A đang sản xuất ở một nơi nào đó mà sẽ giao hàng cho B.
ISO nhận việc sản xuất không còn theo từng xí nghiệp riêng lẻ và theo một quá trình đi từ người cung cấp nguyên liệu, đến người sản xuất và cuối cùng là người tiêu dùng. Do đó, nó thay đổi QTKD1 từ quản trị theo mục tiêu (làm cái gì, bao nhiêu) sang quản trị theo quá trình. Triết lý mới, hành động mới thì phải có sách mới, ISO gọi sách này là sổ tay chất lượng.
Số này ghi tóm tắt thủ tục và quy trình thực hiện, nêu rõ trách nhiệm từng người, từng bộ phận. Thủ tục và quy trình kia chính là những cái nguyên thủy đã được thiết lập trong các cẩm nang của QTKD1.
Nếu không có những thể thức nguyên thủy này thì ISO sẽ không bao giờ làm được quyển sổ tay chất lượng. Nó không thiết lập nên quy trình mới và chỉ bổ sung quy trình nguyên thuỷ bằng cách đưa ra những câu hỏi đế nếu quy trình nguyên thuỷ chưa có thì thêm vào.
Sở dĩ ISO làm được là vì những thể thức điều hành đã phát triển lâu dài và do vậy người ta khám phá các trường hợp làm giảm chất lượng. Để ngăn chặn việc giam chất lượng ISO nói là “phòng ngừa”, ta sẽ gọi quản lý chất lượng theo ISO là QTKD2 và ta thấy nó phát triển trên nền tảng của QTKD1.
Tuy nhiên có hai điểm cần thêm:
Một là, ISO chỉ bổ sung cho các quy trình nguyên thủy mà quy trình này lại có nhiều phần, nhiều loại. ISO hóa được thực hiện cho từng phần một, tùy doanh nghiệp định, như sản xuất, giao hàng…
Hai là, ISO không phổ biến ở Mỹ, dẫu rằng nơi này nêu lên yêu cầu về chất lượng đầu tiên. ISO được dùng ớ Châu Âu vì ớ đó có nhiều nước nên họ phải giống nhau thông qua một cái gì là tiêu chuẩn Mỹ có những tiêu chuẩn riêng.
Tái cấu trúc công ty
Sau năm1990, nền công nghiệp Mỹ phải thay đổi nhiều vì cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt, công nghiệp quốc phòng bị giảm sút, công nghệ tin học phát triển , các doanh nghiệp bị buộc phải cắt giảm chi phí để tồn lại trong khung cảnh cạnh tranh mới. Vì thế, các Công ty phải tái cấu trúc (re-engineering).
Tái lập Công ty dựa trên ba yêu cầu vừa mới phát sinh là:
(l) khách hàng là người quyết định,
(2) cạnh tranh quyết liệt hơn và
(3) phải thay đổi.
Sự thay đổi các tác giả đề nghị là:
Đơn vị công tác phải đổi xử phòng chuyên môn thành đội công tác;
Tính chất công việc từ đơn giản hoá thành đa dạng hoá;
Vai trò của người lao động từ người bị giảm sút thành người được uy quyền;
Cán bộ Công ty từ người điều hành sang lãnh đạo...
=> Ta gọi sự tái lập này là QTKD3.
Triết lý "đóng thùng gỗ" là triết lý "lấy người làm gốc", nó ảnh hưởng tới từng quyết định của nhà quản lý và là cơ sở của quan hệ giữa nhân viên và chủ, nó bồi đắp lòng trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp. Làm một nhà quản lý, bạn nên như người thợ đóng thùng.
Chỉ có khoa học quản lý mới tạo được tập thể hiệu quả vượt bậc.
Quản lý hiệu quả không chỉ dừng ở kinh nghiệm, mà nên phân tích, nghiên cứu kinh nghiệm, từ đó phát hiện nguyên nhân thành công và thất bại, biến nó thành khoa học.
Tổng quan
Vấn đề là gì?
Vấn đề là trạng thái mà ở đó có sự mâu thuẫn hay là có khoảng cách giữa thực tế và mong muốn
Mong muốn
Khoảng cách
Thực tế
Những sai lầm thường mắc phải khi giải quyết vấn đề
- Đi thẳng đến kết luận khi chưa xem xét kĩ các yếu tố
- Không xác định được vấn đề (quá nhiều thông tin)
- Quá nhấn mạnh vào hành động
Các bước giải quyết vấn đề
- Phân tích và xác định vấn đề
- Đưa ra các giải pháp
- Đánh giá và lựa chọn giải pháp
- Thực hiện giải pháp, theo dõi vấn đề phát sinh
Tại sao cần phải giải quyết vấn đề một cách có hệ thống
- Đảm bảo cho suy nghĩ của chúng ta có trật tự
- Giúp chúng ta khỏi đưa ra một phương án giải quyết vội vàng
- Giúp những người có liên quan hiểu rõ và chia sẻ thông tin với nhau
- Tránh tạo ra những thiếu sót đáng tiếc do không xem xét cẩn thận
- Giúp cho quá trình giải quyết vấn đề có hiệu quả hơn
Phân tích và xác định vấn đề
- Mô tả vấn đề
- Xác định rõ các nguyên nhân
- Đánh giá các nguyên nhân
- Kiểm tra và khẳng định nguyên nhân chính
Mô tả vấn đề cần:
+ Ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu
+ Lượng hoá
+ Mọi người thống nhất và đồng ý
+ Không áp đặt ý kiến của mình
+ Tìm ra một số dẫn chứng, sự kiện để bắt đầu
+ Lắng nghe và tìm ra những điểm chung
+ Tạo ra bầu không khí cởi mở trong các cuộc họp
Quy tắc tảng băng chìm
Qui tắc của phương pháp “Động não”
+ Số lượng quan trọng hơn chất lượng
+ Không được phép phê phán khi người khác đưa ra ý kiến
+ Những ý tưởng kỳ lạ nhất cần phải được khuyến khích
+ Ý kiến mới có thể được phát triển trên cơ sở ý kiến trước
+ Khuyến khích mọi người tham gia chứ không bắt buộc
Chiến lược là gì?
Chiến lược - “Khoa hoc về nghệ thuật quân sự được áp dụng vào việc kế hoạch hoá tổng thể và thực hiện trên toàn cục diện”
(American Dictionary)
Chiến lược là đường hướng hoặc kế hoạch kết hợp các mục tiêu lớn, chính sách và các chương trình hành động thành một thể thống nhất.
(Quinn, 1980)
Chiến lược bao gồm mục tiêu, chính sách, và các kế hoạch
(Dess and Miller, 1993)
Chiến lược là: Kế hoạch, mưu lược, mẫu hình vị thế và tầm nhìn
(Mintzberg, 1987)
Chiến lược là gì?
Một định hướng dài hạn mà tổ chức theo đuổi, được xây dựng trên cơ sở các thông tin sẵn có và nhãn quan chiến lược của quản lí.
Chiến lược là một lộ trình
Các kiểu tự duy chiến lược
Kiểm định tầm nhìn của bạn
Một bản tuyên bố về tầm nhìn là một báo cáo nói về vị trí mà công ty bạn mong đạt được. Bản tuyên bố tầm nhìn phác thảo ra tương lai của công ty bạn khi các bạn đạt được những mục tiêu và mục đích của mình. Các tuyên bố về tầm nhìn có thể khác biệt nhau về độ dài; có thể là một câu ngắn gọn, cũng có thể là một đoạn văn dài nhưng phải xác định được đích đến cuối cùng của bạn. VD Tầm nhìn của GK: Trở thành nhà cung cấp giải pháp đào tạo tổng thể hàng đầu tại Việt Nam. VD về hình ảnh của một đoàn tàu đi từ Hà Nội đến Sài Gòn. - Sứ mệnh con tầu: Chở hàng hoặc chở người - Tầm nhìn: Đến ga Sài Gòn an toàn - Giá trị cốt lõi: Hai đường ray đảm bảo con tầu đi đúng hướng
Tầm nhìn - trả lời câu hỏi bạn sẽ đi đến đâu (Câu hỏi What,Where,When..) Sứ mạng - trả lời câu hỏi bạn là ai trong câu chuyện đó (How, Who, Whose...)
* Có hiện thực không
* Có dễ truyền đạt không
* Có thích hợp với những người có quyền lợi không
* Có lâu bền không
TẦM NHÌN Vinamilk sẽ tập trung mọi nguồn lực để trở thành công ty sữa và thực phẩm có lợi cho sức khỏe với mức tăng trưởng nhanh và bền vững nhất tại thị trường Việt Nam bằng chiến lược xây dựng các dòng sản phẩm có lợi thế cạnh tranh dài hạn. SỨ MỆNH Vinamilk không ngừng đa dạng hóa các dòng sản phẩm, mở rộng lãnh thổ phân phối nhằm duy trì vị trí dẫn đầu bền vững trên thị trường nội địa và tối đa hóa lợi ích của cổ đông Công ty. Tầm nhìn và sứ mạng của tập đòan Mai Linh Tầm nhìn (Vision) "Trở thành nhà cung cấp dịch vụ tốt nhất nơi chúng tôi có mặt!" "To be the best service provider wherever we are!" Sứ mạng (Mission) "Mang sự hài lòng đến cho mỗi người, vì cuộc sống tốt đẹp hơn!" "Provide better satisfaction for better life!"
VD: Tầm nhìn
Vinamilk sẽ tập trung mọi nguồn lực để trở thành công ty sữa và thực phẩm có lợi cho sức khỏe với mức tăng trưởng nhanh và bền vững nhất tại thị trường Việt Nam bằng chiến lược xây dựng các dòng sản phẩm có lợi thế cạnh tranh dài hạn.
Sứ mệnh (tôn chỉ mục đích)
Bản tuyên bố về sứ mệnh là một tài liệu có mục đích thông báo sự tồn tại của công ty bạn. Một bản tuyên bố sứ mệnh xác định những giá trị và những quy tắc chi phối công ty của bạn và là một phần cốt yếu trong quá trình lên kế hoạch chiến lược. Các sứ mệnh có thể khác nhau về độ dài và nói về việc kinh doanh, mục đích và các giá trị. Sứ mệnh của công ty là lý do mà công ty tồn tại trên thị trường, bạn là ai và bạn sẽ mang lại cho khách hàng và cộng đồng những loại sản phẩm và dịch vụ gì. Những quyết định trong quá trình lên kế hoạch chiến lược và trong sự chi phối của công ty luôn luôn phải hài hòa với tuyên bố về sứ mệnh.
* Tại sao xã hội cần tới chúng ta? Mục đích của chúng ta là gì?
* Đặc trưng nổi bật của công ty chúng ta là gì?
* Khách hàng hiện tại, tiềm năng là ai? Thị trường mục tiêu là gì?
* Đâu là mối quan tâm kinh tế chính của chúng ta?
* Tiêu chuẩn giá trị, niềm tin cơ bản của công ty là gì?
Sứ mệnh
Vinamilk không ngừng đa dạng hóa các dòng sản phẩm, mở rộng lãnh thổ phân phối nhằm duy trì vị trí dẫn đầu bền vững trên thị trường nội địa và tối đa hóa lợi ích của cổ đông Công ty.
VD Sứ mệnh của GK: Sứ mệnh của GK là góp phần vào sự phát triển nguồn nhân lực của các doanh nghiệp Việt Nam, nhằm giúp các doanh nghiệp đạt mục tiêu tăng trưởng của mình.
Tầm nhìn
Một bản sứ mệnh có hiệu quả
* Phải ngắn gọn và cô đọng
* Rõ ràng và dễ hiểu
* Phải chỉ ra tại sao ta lại làm cái đó và lí do tồn tại của công ty là gì
* Không được quá hẹp
* Phải đưa ra định hướng cho các hoạt động thích hợp
* Phải thể hiện được các cơ hội
* Phù hợp với các khả năng riêng có của ta
Phải cho thấy được cam kết của chúng ta
Phải chi ra được cái mà xã hội nhớ đến chúng ta
Các đặc tính của mục tiêu
* Đề cập tới các vấn đề cả về mặt tài chính cũng như phí tài chính
* Phải thực hiện được với một nỗ lực nhất định
* Phải có tính thời gian
* Hạn chế mâu thuẫn
* Có thể đo lường được
* Tránh các hậu quả không lường trước
*
Để thực hiện mục tiêu phải thực hiện chiến lược bộ phận (Giải pháp) này. Muốn thực hiện được chiến lược bộ phận, nhà quản lý phải hoạch định giải pháp.
Giải pháp là những hướng đi được đưa ra trong điều kiện cụ thể tại thời điểm hoạch định của tổ chức.
VD: để đạt mục tiêu chiến lược tổng quát là tăng khả năng sinh lợi người ta hoạch định chiến lược là: chiến lược dựa vào bản thân công ty (theo cách phân loại 1, chiến lược 3 ở trên) và chiến lược khai thác các khả năng tiềm tàng (theo cách phân loại 2, chiến lược 1 ở trên) , từ đó hoạch định một loạt giải pháp sau:
Đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh để tăng doanh thu
Xâm nhập thị trường sâu hơn, rộng hơn để tăng lượng bán ra.
Phát triển thị trường mới ở nhiều địa điểm và quốc gia khác nhau
Phát triển sản phẩm mới
Để thực hiện giải pháp xâm nhập thị trường (giải pháp 2), nhà quản lý lại phải hoạch định 1 loạt các biện pháp (Gọi là kế hoạch hành động - Biện pháp chính là kế hoạch hành động chi tiết, cụ thể, có nội dung công việc, kinh phí cho nó, có phân công người phụ trách, ghi rõ thời gian thực hiện thực hiện biện pháp, kết quả mong đợi từ áp dụng biện pháp) cụ thể để triển khai như:
Mở thêm một số điểm bán, của hàng (nêu danh mục cửa hàng)
Thay đổi quảng cáo (ghi rõ nội dung quảng cáo)
Giảm giá hay bán trả chậm (ghi nội dung cụ thể)
Một ngày nọ, thỏ già nhìn thấy thỏ trẻ đang chạy hớt ha hớt hải bèn gọi lại hỏi chuyện:
- Tại sao cháu lại chạy loạn lên thế?
- Bác không biết là mùa săn bắn đã đến rồi sao?
- Chàng trai ạ, ta có một cách để giải quyết việc đó. Cháu hãy biến mình thành một cây to, dù người thợ săn có đi qua cũng không thể bắn cháu được, vì họ cứ tưởng cháu là một cái cây.
- Cách này thật tuyệt! Sao trước đây cháu không nghĩ ra nhỉ? Cám ơn bác nhiều lắm.
Thỏ già lại nhẹ nhàng rảo bước trong rừng. Được một lúc nó nghe tiếng thỏ trẻ đuổi theo:
- Bác ơi, nhưng làm thế nào để biến được thành một cái cây?
Thỏ già đứng lại, nhún vai nói:
- Chàng trai, ta đã đưa cho cháu một cách tốt, cháu phải cảm ơn ta chứ không nên làm phiền ta bằng những câu hỏi đó. Cháu nên tự mình suy nghĩ mới phải chứ.
Bài học kinh doanh:
Trong kinh doanh, thực tế cho thấy, một chiến lược được vạch ra rất tốt nhưng lại không được triển khai thực hiện cho tốt, thì chiến lược đó cũng không có giá trị gì cả.
“Nếu bạn có chiến lược giống như đối thủ thì bạn không hề có chiến lược. Nếu chiến lược là khác biệt, nhưng rất dễ bị sao chép thì đó là một chiến lược yếu kém. Còn nếu chiến lược này khác biệt độc đáo và rất khó bị sao chép, bạn có một chiến lược mạnh và bền vững.”
Xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Giai đoạn 1: Đưa vào các số liệu phân tích ban đầu
Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong doanh nghiệp (IFE)
Ma trận về thông tin cạnh tranh CI
Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngòai
Giai đoạn 2: Giai đoạn kết hợp
Với 5 ma trận:
Ma trận SOWT
Ma trận đánh giá hành động và vị trí chiến lược của doanh nghiệp SPACE
Ma trận Porfolio (Quan hệ giữa thị phần và tăng trưởng thị trường)
Ma trận các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp (IE)
Ma trận chiến lược chính MS
Giai đoạn 3: Giai đoạn quyết định - sử dụng ma trận kế hoạch chiến lược định lượng QSPM
Giai đoạn 1: Trong giai đoạn này phải lập các ma trận (đúng hơn là các bảng sau):
1. Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong của doanh nghiệp (Internal Factor Estimation) được hình thành bằng cách cho điểm và lập thành ma trận ở dạng bảng:
2. Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài và mức đáp ứng của doanh nghiệp đang xét đối với các yếu tố đó. (Gọi là ma trên EFE, External Factor Estimation) được hình thành như bảng:
3. Ma trận về thông tin cạnh tranh (CI, Competitive Information) có thể minh họa theo bảng:
Giai đoạn 2: Trong giai đoạn này phải lập năm bảng ma trận, chủ yếu là để kết hợp các yếu tố để tìm ra các phương án khả thi.
1./ Ma trận nguy cơ - cơ hội - điểm yếu - điểm mạnh SOWT.
SO: Thế mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài thành chiến lược phát huy điểm mạnh để tận dụng cơ hội
WO: Kết hợp điểm yếu bên trong với cơ hội bên ngoài hình thành chiến lược khắc phục điểm yếu bằng cách tận dụng cơ hội
ST: Kết hợp thế mạnh bên trong với đe doạ bên ngoài hình thành chiến lược lợi dụng thế mạnh để đối phó với nguy cơ từ bên ngoài
WT: Kết hợp điểm yếu bên trong với mối đe doạ bên ngoài hình thành chiến lược tối thiếu hoá điểm yếu và phòng thủ trước mối đe doạ từ bên ngoài.
VD: SOWT
Điểm mạnh là có nhiều vốn được kết hợp với cơ hội là nhu cầu thị trường đang tăng mạnh sẽ dẫn đến kết luận là nên tiếp tục phát triển sản xuất mạnh.
Điểm yếu là thiếu công suất sản xuất được tổ hợp với cơ hội là có doanh nghiệp muốn bán lại xí nghiệp sẽ dẫn đến quyết định nên mua lại xí nghiệp định bán.
Điểm mạnh là doanh nghiẹp có tiềm lực nghiên cứu công nghệ tốt được tổ hợp với nguy cơ là các đối thù có trình độ phát triển công nghệ cao hơn sẽ dẫn đến quyết định là nên đẩy mạnh việc mua các phát minh và sáng chế hay tình báo kỹ thuật.
Điểm yéu là tinh thần lao động của đội ngũ công nhân của doanh nghiệp yếu được tổ hợp với nguy cơ là các doanh nghiệp bên ngoài đang hoạt động mạnh mẽ để thu hút lao động sẽ dẫn đến quyết định là doanh nghiệp phải tăng phúc lợi cho công nhân mình.
2./ Ma trận đánh giá hành động và vị trí chiến lược của doanh nghiệp (SPACE): Ma trận này được xem xét hai nhân tố bên trong: sức mạnh tài chính FS (Finalcial Strong) và lợi thế cạnh tranh CA (Competitive Advantage) và hai nhóm yếu tố bên ngoài: sự ổn định của môi trường kinh doanh ES (Environmental Stability) và sức mạnh của ngành IS (Industrial Strong).
3./ Ma trận Porfolio: Đây là ma trận xem xét mối quan hệ giữa thị phần của doanh nghiệp và mức gia tăng nhu cầu sản phẩm trên thị trường để xác định chiến lược cho doanh nghiệp.
4./ Ma trận kết hợp các yếu tố bên trong (IFE) và bên ngoài (EFE):
5./ Ma trận chiến lược MS: xem xét hai yếu tố: Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng của thị trường.
Giai đoạn 3: Lập ma trận kế hoạch chiến lược định lượng (QSPM). Các bước tiến hành như sau:
Xây dựng đội ngũ hiệu quả vượt bậc
1- Tạo môi trường thuận lợi cho nhân viên
Để xây dựng đội ngũ hiệu quả vượt bậc, nhà quản lý phải gắng tạo môi trường thuận lợi cho nhân viên, bao gồm: cấp quản lý phải giải quyết vấn đề của tập thể, dành đủ thời gian tiếp xúc và thông hiểu cấp dưới, phải có thành tích và chiếm được lòng tin của cấp dưới. Nhà quản lý phải tạo sự hợp tác, hài hoà, tin tưởng lẫn nhau giữa các nhân viên. Dù có hiềm khích giữa các thành viên công ti, vẫn phải nêu cao tinh thần "Tuy không sinh cùng năm cùng tháng nhưng nguyện chết cùng ngày".
2- Tạo niềm tự hào cho các thành viên
Mỗi nhân viên đều mong tập thể của mình có tiếng tăm, mà một tập thể có tiếng phải có tiêu chí độc đáo. Nếu không có tiêu chí đó, hoặc giả tiêu chí đó bị tổn hại, lòng tự hào tập thể của từng nhân viên sẽ tiêu tan. Rất nhiều nhà quản lý không biết rằng lòng tự hào của nhân viên chính là động lực cống hiến của họ.
Vì thế, từ lập ra hệ thống hình tượng của công ty đến khích lệ các bộ phận, đều có ảnh hưởng sâu sắc tới từng thành viên và kích thích họ sáng tạo.
3- Tạo vị trí phù hợp với năng lực
Các thành viên cần có trách nhiệm đối với vị trí của mình, đồng thời phải hợp tác tốt với các thành viên khác. Chỉ như vậy, mỗi thành viên mới hiểu rõ vai trò của mình trong toàn bộ dây chuyền; chỉ như vậy, nhân viên mới là thành viên chân chính trong tập thể. Khi là một thành viên chân chính, nhân viên sẽ căn cứ vào nhu cầu của tập thể mà lập tức hành động, không cần chờ lệnh cấp trên. Nói cách khác, từng thành viên sẽ tự lựa chọn phương án thích hợp để thực hiện nhu cầu và mục tiêu chung của tập thể.
Vì thế, tập thể hiệu quả vượt bậc phải có các thành viên mà năng lực phù hợp với vị trí, từ đó mới phát huy được toàn bộ sức mạnh mà tiến lên.
Ai cũng đều trong vòng quản lý, bởi quan hệ con người là quan hệ qua lại, anh cũng phải chịu một kiểu điều khiển nào đó.
Nhà quản lý giỏi và người giỏi quản lý không giống nhau
10 loại việc quản lý dễ có thành tích
1. Đánh giá phẩm chất của một số nhân viên (thậm chí cả khuyết điểm) để mọi người thấy năng lực nhìn người của mình.
2. Trưng cầu đề án hợp lý hoá quy trình làm việc, sau đó phê phán một số đề án kém cỏi.
3. Viết tổng kết, bao gồm tổng kết năm, tổng kết quý, tổng kết tháng, tổng kết tuần. Nói tổng kết để cải tiến, sau đây chúng ta sẽ có bước tiến vượt bậc. Mỗi lần tổng kết là phải mở hội nghị "Xốc lại khí thế, tiến tới tương lai".
4. Họp hành. Cả công ty là những cuộc họp hành, hội nghị mở rộng. Không họp hành, lấy gì quản lý nhân viên? Cần giải quyết một vấn đề? Hãy lấy ý kiến quần chúng, sau đó mở ít nhất ba hội nghị để quyết định, vừa tỏ rõ tính dân chủ, vừa cho thấy sự thận trọng.
5. Tìm những nhân viên tốt để bồi dưỡng nghề nghiệp. Những nhân viên này thực ra có tố chất rất kém, song phải làm cho họ hiểu rằng "hôm nay không cố gắng làm việc, ngày mai phải cố gắng tìm việc". Nếu ngay đến ta là giám đốc mà đám người đó không biết "cố gắng" lấy lòng, làm sao họ biết "cố gắng" lấy lòng một khách hàng bình thường?
6. Cải tạo lại phòng làm việc. Phòng làm việc của giám đốc càng xa hoa, nhân viên càng sùng bái giám đốc.
7. Tạo hình tượng lãnh đạo. Người đẹp nhờ lụa, lúa tốt nhờ phân. Quần áo càng sang trọng càng xứng là lãnh đạo. Kinh nghiệm lịch sử đã chứng minh: người ta có thể không tôn trọng anh, song người ta tôn trọng áo quần của anh. Nếu như anh mặc toàn đồ hiệu (như complet Anh, giầy Ý), lại kèm theo chiếc xe sang trọng (như Mercedes, BMW, Rolls-Royce), sẽ thấy ngay anh và nhân viên thuộc hai đẳng cấp khác nhau, nhân viên sẽ vì thế sinh lòng kính trọng anh.
8. Ra nước ngoài khảo sát. Ra nước ngoài khảo sát không có gì quan trọng, quan trọng là tầm mắt bạn được mở mang, bạn có thể dùng nó để bàn chuyện gái.
9. Thay đổi danh xưng cán bộ. Thay đổi danh xưng sẽ tạo ấn tượng đổi mới, nó cũng như sắp xếp lại đồ đạc trong gia đình. Ví như, đổi tên "phòng tổ chức" thành "ban nhân lực", "ban quản lý xuất - nhập" thành "ban lưu thông". Còn phòng tổ chức và ban nhân lực, ban quản lý xuất nhập và ban lưu thông khác nhau cái gì, có trời mới biết.
10. Nói không ngưng nghỉ. Nếu như bạn không có quyền lực, nhiều khả năng người nghe sẽ bỏ đi. Còn giờ không như vậy, bạn nói không ngưng nghỉ, càng cho thấy sự tâm huyết của bạn. Bạn càng nói, người nghe càng không dám ngủ gật. Cuối cùng, mỗi lần ngưng nói là bạn lại được vỗ tay hoan hô.
Định hướng công việc của giám đốc:
1. Cho mọi người thấy tầm quan sát vĩ mô.
2. Mãi mãi thong dong (nên nhớ: làm gì cũng không được khẩn trương).
3. Giao công việc cho những kẻ ngốc nghếch.
4. Tránh trả lời bất cứ câu hỏi nào. Nếu có câu hỏi, tốt nhất là hướng dẫn kẻ đi hỏi tự tìm đáp án; nếu không, hãy để nhân viên trao đổi, thảo luận!
Ngụ ngôn các bài học lãnh đạo
Thấy quạ ngồi trên cây cả ngày mà không làm gì, thỏ con hỏi: - Tôi có thể ngồi cả ngày mà không làm gì như anh không? - Tất nhiên rồi! Sao lại không nhỉ? - quạ nói. Vậy là thỏ con ngồi dưới đất nghỉ ngơi. Bỗng cáo già xuất hiện vồ lấy thỏ và ăn thịt. Bài học rút ra: Để được ngồi không, bạn phải ngồi ở vị trí rất, rất cao.
Ngụ ngôn các bài học lãnh đạo
Hai bồ câu trống và mái tha hạt thóc về đầy tổ, cả hai rất ư hạnh phúc. Gặp mùa khô hanh, hạt thóc ngót lại. Con trống thấy tổ vơi đi liền trách con mái ăn vụng. Con mái cãi lại liền bị con trống mổ chết. Mấy hôm sau mưa xuống, hạt thóc thấm nước và nở lớn. Bồ câu trống ngẩn tò te. Bài học rút ra: “Thịt” nhân viên một cách hồ đồ không làm bạn trông thông minh hơn.
Ngụ ngôn các bài học lãnh đạo
Gà tây nói với bò tót: - Tôi muốn nhảy lên ngọn cây kia nhưng không đủ sức. - Vậy thì rỉa phân tôi đi - bò tót khuyên. Gà tây mổ phân bò tót ăn và thấy tăng lực, thật sự đủ sức để nhảy lên cành cây thứ nhất. Ngày tiếp theo, sau khi ăn một ít phân bò, gà tây nhảy được đến cành cây thứ hai. Cứ thế đến nửa tháng sau, gà tây đã lên tới ngọn cây. Không lâu sau đó, gà tây bị một bác nông dân bắn rơi. Bài học rút ra: Sự ngu ngốc có thể đưa bạn lên đỉnh cao nhưng không thể giữ bạn ở đó mãi.
Ngụ ngôn các bài học lãnh đạo
Một ông vua nọ do chán chuyện triều đình nên mua một con khỉ đem về. Con khỉ làm trò rất hay nên được vua sủng ái, đi đâu cũng mang theo, cho mặc quần áo, giao cả kiếm cho giữ. Một hôm, vua ra vườn thượng uyển ngủ. Có con ong bay đến đậu lên đầu vua. Khỉ muốn đuổi ong, lấy kiếm nhắm vào ong mà chém. Đức vua băng hà.
Bài học rút ra: Trao quyền cho những kẻ không có năng lực thì luôn phải cảnh giác.
Ngụ ngôn các bài học lãnh đạo
Chim non đang bay về phương nam để tránh rét thì bị đông cứng và rơi xuống một cánh đồng. Bò cái đi ngang bèn phóng uế lên người nó. Trong lúc bị đông cứng vì rét, bãi phân bò lại làm chim non thấy ấm lên và tỉnh lại. Nó cất tiếng hót vì sung sướng thì một chú mèo đi qua nghe thấy. Mèo tìm đến bãi phân bò lôi chim non ra rồi ăn thịt. Bài học rút ra: 1) Không phải bất cứ ai vấy bẩn lên bạn cũng đều là kẻ thù. 2) Không phải bất cứ ai kéo bạn ra khỏi chốn bẩn thỉu cũng đều là bạn. 3) Khi bạn đang ở sâu trong chốn bẩn thỉu, hãy im lặng.
Ngụ ngôn các bài học lãnh đạo
Quạ thấy chó ngậm khúc xương quá ngon, bèn đánh liều lao xuống mổ vào đầu chó. Bị bất ngờ, chó bỏ chạy để lại khúc xương. Quạ ngoặm lấy khúc xương nhưng nặng quá không tha nổi. Chó sau khi hoàn hồn, thấy kẻ tấn công chỉ là con quạ nên quay lại táp một cú, quạ chết tươi. Bài học rút ra: Đừng chiếm thị trường nếu bạn nhắm không giữ được nó.
Ngụ ngôn các bài học lãnh đạo
Ba con thú dữ là sói, gấu và cáo thay nhau ức hiếp đàn dê. Dê đầu đàn bèn nói với cả bầy: “Ta nên mời một trong ba gã sói, gấu hay cáo làm thủ lĩnh của chúng ta”. Cả đàn dê bất bình, nhưng ba “hung thần” nghe tin này rất mừng. Thế là chúng quay sang tranh giành nhau quyền lãnh đạo, cuối cùng cáo dùng bẫy hại chết được sói và gấu. Nhưng rồi một mình nó không còn ức hiếp đàn dê được nữa. Bài học rút ra: Hãy thận trọng khi nghe tin bạn sắp được làm sếp!
Hai vợ chồng nhà nọ rất nghèo khổ, nhưng chẳng chịu làm lụng gì, suốt ngày chỉ cầu khấn thần thánh. Bị cầu khẩn riết quá, thần linh dành cho họ một con gà mái. Quá thất vọng, họ bàn nhau giết gà ăn thịt. Hôm sau, khi cầm dao ra ổ, anh chồng thấy gà mái đã đẻ ra một quả trứng bằng vàng rất to.
Phát tài rồi ! Phát tài rồi !
Hai vợ chồng hò reo nhảy múa. Họ làm cho gà mái một cái ổ ấm áp, cho gà ăn những thức ăn ngon.
Quá tham lam, mụ vợ bàn với chồng:
- Con gà này ngày nào cũng đẻ trứng vàng thì ất trong bụng nó còn nhiều vàng lắm. Hay ta giết quách nó đi, lấy hết vàng ra.
Lão chồng nghe lời mụ vợ, lấy dao giết gà. Hóa ra trong bụng gà mái chẳng còn một quả trứng vàng nào.
Chẳng mấy chốc, họ đã phải bán hết đồ đạc trong nhà, sống lần hồi qua ngày.
Bài học kinh doanh:
Gia nhập thương trường, mỗi một doanh nghiệp đều phải có bí quyết kinh doanh. Bí quyết đó phải được triển khai lâu dài, xuyên suốt trên mọi mặt hoạt động của công ty. Chứ chỉ hám lợi ngắn, nôn nóng, vội vàng, thì dù "bí quyết" có là gì, cũng chả mấy chốc sẽ thất bại.
Maier và Lawler (1973) đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau:
Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực
Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực
Động lực = Khao khát x Tự nguyện
động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức.
Phân cấp nhu cầu - Maslow
Nhu cầu sinh lý, đó là như cầu cơ bản để sinh tồn, như ăn, uống, v. v…
Nhu cầu an toàn, bao gồm như cầu được bảo vệ cả về tinh thần lẫn vật chất, ví như không lo bị trộm cướp đe doạ, bảo hiểm trước các bất trắc, bảo hiểm cho công việc và sau khi về hưu, v. v…
Nhu cầu giao tiếp xã hội, ai cũng là một thành viên trong xã hội, có nhu cầu giao tiếp và thuộc về nhóm để trao đổi tình cảm, sở thích, giúp đỡ và khen lẫn nhau.
Nhu cầu được tôn trọng, kể cả nhu cầu được người khác tôn trọng và cảm giác tự tôn.
Nhu cầu thực hiện khát vọng, là thông qua nỗ lực của bản thân mà biến mong muốn của mình thành hiện thực, từ đó tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống và công việc.
=> Theo luận tháp nhu cầu của Maslow, chỉ có thoả mãn nhu cầu của một người mới kích thích được người đó.
“Đổi mới tư duy, Đổi thay thế giới”.
Khoa học tâm lý chỉ ra rằng, tư duy của con người ta được chỉ đạo và xử lý tự động bởi những niềm tin và giả định đã ăn sâu vào tiềm thức.
Hơn nữa, qui trình này lại nằm trong vòng xoáy tự gia cường: con người thông qua cách tư duy của mình thường chỉ chọn lọc những thông tin phù hợp với cách nghĩ của mình, do vậy niềm tin và giả định đã có ngày càng được gia cường; kết quả là cách tư duy (cũ) này ngày càng trở nên vững chắc.
"Gieo hạt tư tưởng, thu hoạch hành vi; gieo hạt hành vi, thu hoạch tập quán; gieo hạt tập quán, thu hoạch tính cách; gieo hạt tính cách, thu hoạch vận mệnh."
V=Vision, có nghĩa là tầm nhìn;
I=Integrity, có nghĩa là sự chính trực;
E=Energy, có nghĩa là nghị lực;
T=Talent, có nghĩa là tài năng;
N=Nationalism, có nghĩa là tinh thần dân tộc;
A=Aspiration, có nghĩa là hoài bão; và
M=Mutuality, có nghĩa là tình cảm cộng đồng và tinh thần đồng đội”.
Suy nghĩ
Có một chai rượu nho, nút bần trên miệng chai không mở được. Vậy làm thế nào để uống được chai rượu nho này mà không cần đập vỡ chai, cũng không xoi qua lỗ nút chai?
Hai tù nhân tìm cách vượt ngục bằng cách đào một đường hầm ngầm dưới lòng đất từ xà lim rộng 80 feet, nơi họ đang bị giam giữ. Họ đã giấu đất đá đào lên từ dưới đất ở đâu?
Nguyên tắc sáng tạo
1) Nguyên tắc phân nhỏ
a) Chia đối tượng thành các phần độc lập. b) Làm đối tượng trở nên tháo lắp được. c) Tăng mức độ phân nhỏ đối tượng.
2) Nguyên tắc “tách khỏi”
a) Tách phần gây “phiền phức” ( tính chất “phiền phức” ) hay ngược lại tách phần duy nhất “cần thiết” ( tính chất “cần thiết” ) ra khỏi đối tượng.
3) Nguyên tắc phẩm chất cục bộ
a) Chuyển đối tượng ( hay môi trường bên ngoài, tác động bên ngoài) có cấu trúc đồng nhất thành không đồng nhất. b) Các phần khác nhau của đối tượng phải có các chức năng khác nhau. c) Mỗi phần của đối tượng phải ở trong những điều kiện thích hợp nhất đối với công việc.
4) Nguyên tắc phản đối xứng
Chuyển đối tượng có hình dạng đối xứng thành không đối xứng ( nói chung giãm bật đối xứng).
Nguyên tắc sáng tạo
5) Nguyên tắc kết hợp
a) Kết hợp các đối tượng đồng nhất hoặc các đối tượng dùng cho các hoạt động kế cận. b) Kết hợp về mặt thời gian các hoạt động đồng nhất hoặc kế cận. 6) Nguyên tắc vạn năng đối tượng thực hiện một số chức năng khác nhau, do đó không cần sự tham gia của các đối tượng khác.
7) Nguyên tắc “chứa trong”
a) Một đối tượng được đặt bên trong đối tượng khác và bản thân nó lại chứa đối tượng thứ ba … b) Một đối tượng chuyển động xuyên suốt bên trong đối tượng khác.
8. Nguyên tắc phản trọng lượng
a) bù trừ trọng lượng của đối tượng bằng cách gắn nó với các đối tượng khác có lực nâng. b) Bù trừ trọng lượng của đối tượng bằng tương tác với môi trường như sử dụng các lực thủy động, khí động…
9) Nguyên tắc gây ứng suất sơ bộ
Gây ứng suất trước với đối tượng để chống lại ứng suất không cho phép hoặc không mong muốn khi đối tượng làm việc ( hoặc gây ứng suất trước để khi làm việc sẽ dùng ứng suất ngược lại ).
Nguyên tắc sáng tạo
10) Nguyên tắc thực hiện sơ bộ
a) Thực hiện trước sự thay đổi cần có, hoàn toàn hoặc từng phần, đối với đối tượng. b) Cần sắp xếp đối tượng trước, sao cho chúng có thể hoạt động từ vị trí thuận lợi nhất, không mất thời gian dịch chuyển.
11) Nguyên tắc dự phòng
Bù đắp độ tin cậy không lớn của đối tượng bằng cách chuẩn bị trước các phương tiện báo động, ứng cứu, an toàn.
12) Nguyên tắc đẳng thế
Thay đổi điều kiện làm việc để không phải nâng lên hay hạ xuống các đối tượng.
13) Nguyên tắc đảo ngược
a) Thay vì hành động như yêu cầu bài toán, hành động ngược lại ( ví dụ, không làm nóng mà làm lạnh đối tượng) b) Làm phần chuyển động của đối tượng ( hay môi trường bên ngoài ) thành đứng yên và ngược lại, phần đứng yên thành chuyển động.
14) Nguyên tắc cầu ( tròn ) hoá
a) Chuyển những phần thẳng của đối tượng thành cong, mặt phẳng thành mặt cầu, kết cấu hình hộp thành kết cấu hình cầu. b) Sử dụng các con lăn, viên bi, vòng xoắn. c) Chuyển sang chuyển động quay, sử dụng lực ly tâm.
15) Nguyên tắc linh động
a) Cần thay đổi các đặt trưng của đối tượng hay môi trường bên ngoài sao cho chúng tối ưu trong từng giai đoạn làm việc. b) Phân chia đối tượng thành từng phần, có khả năng dịch chuyển với nhau.
Nguyên tắc sáng tạo
16) Nguyên tắc giải “thiếu” hoặc “thừa”
Nếu như khó nhận được 100% hiệu quả cần thiết, nên nhận ít hơn hoặc nhiều hơn “một chút”. Lúc đó bài toán có thể trở nên đơn giản hơn và dễ giải hơn.
17) Nguyên tắc chuyển sang chiều khác
a) Những khó khăn do chuyển động ( hay sắp xếp) đối tượng theo đường (một chiều) sẽ được khắc phục nếu cho đối tượng khả năng di chuyển trên mặt phẳng ( hai chiều). Tương tự, những bài toán liên quan đến chuyển động ( hay sắp xếp) các đối tượng trên mặt phẳng sẽ được đơn giản hoá khi chuyển sang không gian (ba chiều). b) Chuyển các đối tượng có kết cấu một tầng thành nhiều tầng. c) Đặt đối tượng nằm nghiêng. d) Sử dụng mặt sau của diện tích cho trước. e) Sử dụng các luồng ánh sáng tới diện tích bên cạnh hoặc tới mặt sau của diện tích cho trước.
18) Nguyên tắc sử dụng các dao động cơ học
a) Làm đối tượng dao động. Nếu đã có dao động, tăng tầng số dao động ( đến tầng số siêu âm). b) Sử dụng tầng số cộng hưởng. c) Thay vì dùng các bộ rung cơ học, dùng các bộ rung áp điện. d) Sử dụng siêu âm kết hợp với trường điện từ.
19) Nguyên tắc tác động theo chu kỳ
a) Chuyển tác động liên tục thành tác động theo chu kỳ (xung). b) Nếu đã có tác động theo chu kỳ, hãy thay đổi chu kỳ. c) Sử dụng các khoảng thời gian giữa các xung để thực hiện tác động khác.
20) Nguyên tắc liên tục tác động có ích
a) Thực hiện công việc một cách liên tục ( tất cả các phần của đối tượng cần luôn luôn làm việc ở chế độ đủ tải ). b) Khắc phục vận hành không tải và trung gian. c) Chuyển chuyển động tịnh tiến qua lại thành chuyển động quay.
Nguyên tắc sáng tạo
21) Nguyên tắc “vượt nhanh”
a) Vượt qua các giai đoạn có hại hoặc nguy hiểm với vận tốc lớn. b) Vượt nhanh để có được hiệu ứng cần thiết.
22) Nguyên tắc biến hại thành lợi
a) Sử dụng những tác nhân có hại ( thí dụ tác động có hại của môi trường) để thu được hiệu ứng có lợi. b) Khắc phục tác nhân có hại bằng cách kết hợp nó với tác nhân có hại khác. c) Tăng cường tác nhân có hại đến mức nó không còn có hại nữa.
23) Nguyên tắc quan hệ phản hồi
a) Thiết lập quan hệ phản hồi b) Nếu đã có quan hệ phản hồi, hãy thay đổi nó.
24) Nguyên tắc sử dụng trung gian
Sử dụng đối tượng trung gian, chuyển tiếp.
25) Nguyên tắc tự phục vụ
a) đối tượng phải tự phục vụ bằng cách thực hiện các thao tác phụ trợ, sửa chữa. b) Sử dụng phế liệu, chát thải, năng lượng dư.
Nguyên tắc sáng tạo
26) Nguyên tắc sao chép ( copy)
a) Thay vì sử dụng những cái không được phép, phức tạp, đắt tiền, không tiện lợi hoặc dễ vỡ, sử dụng bản sao. b) Thay thế đối tượng hoặc hệ các đối tượng bằng bản sao quang học (ảnh, hình vẽ) với các tỷ lệ cần thiết. c) Nếu không thể sử dụng bản sao quang học ở vùng biẻu kiến ( vùng ánh sáng nhìn thấy được bằng mắt thường ), chuyển sang sử dụng các bản sao hồng ngoại hoặc tử ngoại.
27) Nguyên tắc “rẻ” thay cho “đắt”
Thay thế đối tượng đắt tiền bằng bộ các đối tượng rẻ có chất lượng kém hơn ( thí dụ như về tuổi thọ).
28) Thay thế sơ đồ cơ học
a) Thay thế sơ đồ cơ học bằng điện, quang, nhiệt, âm hoặc mùi vị. b) Sử dụng điện trường, từ trường và điện từ trường trong tương tác với đối tượng . c) Chuyển các trường đứng yên sang chuyển động, các trường cố định sang thay đổi theo thời gian, các trường đồng nhất sang có cấu trúc nhất định . d) Sử dụng các trường kết hợp với các hạt sắt từ.
29) Sử dụng các kết cấu khí và lỏng
Thay cho các phần của đối tượng ở thể rắn, sử dụng các chất khí và lỏng : nạp khí, nạp chất lỏng, đệm không khí, thủy tĩnh, thủy phản lực.
30) Sử dụng vỏ dẻo và màng mỏng
a) Sử dụng các vỏ dẻo và màng mỏng thay cho các kết cấu khối. b) Cách ly đối tượng với môi trường bên ngoài bằng các vỏ dẻo và màng mỏng.
Nguyên tắc sáng tạo
31) Sử dụng các vật liệu nhiều lỗ
a) Làm đối tượng có nhiều lỗ hoặc sử dụng thêm những chi tiết có nhiều lỗ ( miếng đệm, tấm phủ..) b) Nếu đối tượng đã có nhiều lỗ, sơ bộ tẩm nó bằng chất nào đó.
32) Nguyên tắc thay đổi màu sắc
a) Thay đổi màu sắc của đối tượng hay môi trường bên ngoài b) Thay đổi độ trong suốt của của đối tượng hay môi trường bên ngoài. c) Để có thể quan sát được những đối tượng hoặc những quá trình, sử dụng các chất phụ gia màu, hùynh quang. d) Nếu các chất phụ gia đó đã được sử dụng, dùng các nguyên tử đánh dấu. e) Sử dụng các hình vẽ, ký hiệu thích hợp.
33) Nguyên tắc đồng nhất
Những đối tượng, tương tác với đối tượng cho trước, phải được làm từ cùng một vật liệu ( hoặc từ vật liệu gần về các tính chất) với vật liệu chế tạo đối tượng cho trước.
34) Nguyên tắc phân hủy hoặc tái sinh các phần
a) Phần đối tượng đã hoàn thành nhiệm vụ hoặc trở nên không càn thiết phải tự phân hủy ( hoà tan, bay hơi..) hoặc phải biến dạng. b) Các phần mất mát của đối tượng phải được phục hồi trực tiếp trong quá trình làm việc.
35) Thay đổi các thông số hoá lý của đối tượng
a) Thay đổi trạng thái đối tượng. b) Thay đổi nồng độ hay độ đậm đặc. c) Thay đổi độ dẻo d) Thay đổi nhiệt độ, thể tích.
Nguyên tắc sáng tạo
36) Sử dụng chuyển pha
Sử dụng các hiện tượng nảy sinh trong quá trình chuyển pha như : thay đổi thể tích, toả hay hấp thu nhiệt lượng…
37) Sử dụng sự nở nhiệt
a) Sử dụng sự nở ( hay co) nhiệt của các vật liệu. b) Nếu đã dùng sự nở nhiệt, sử dụng với vật liệu có các hệ số nở nhiệt khác nhau.
38) Sử dụng các chất oxy hoá mạnh
a) Thay không khí thường bằng không khí giàu oxy. b) Thay không khí giàu oxy bằng chính oxy. c) Dùng các bức xạ ion hoá tác động lên không khí hoặc oxy. d) Thay oxy giàu ozon ( hoặc oxy bị ion hoá) bằng chính ozon.
39) Thay đổi độ trơ
a) Thay môi trường thông thường bằng môi trường trung hoà. b) Đưa thêm vào đối tượng các phần , các chất , phụ gia trung hoà. c) Thực hiện quá trình trong chân không.
40) Sử dụng các vật liệu hợp thành ( composite )
Chuyển từ các vật liệu đồng nhất sang sử dụng những vật liệu hợp thành ( composite). Hay nói chung, sử dụng các vật liệu mới.
Module 2: Quản lý và Lãnh đạo
XNQD đã tồn tại từ 1954 hay sớm hơn -> năm 1976 thì mô hình QLXN đã phát triển đến một mức nhất định trong khuôn khổ của chế độ bao cấp;
Nó có một số khuyết tật mà vào năm 1976, nghị quyết của các cuộc Hội nghị lần thứ 20 và 21 của Ban chấp hành Trung ương đã nêu ra và yêu cầu cải tiến như: phân tán, không đồng bộ, mất cân đối trong tổ chức sản xuất, hành chính, bao cấp, quan liêu, kém kỹ thuật, kém trách nhiệm.
Văn bản pháp luật đầu tiên quy định về XNQD là Nghị định 19/CP ngày 29/11/1976, tiếp theo là Nghị định 93/CP ngày 6/4/1977 =Bản điều lệ của xí nghiệp công nghiệp quốc doanh.
Đặc điểm của QLXN thời đó là không có sự phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý. => Vì thế đã có cải tiến vào năm 1981 với Quyết định 25/CP=> Việc này là hạ thấp vai trò quản lý ở tầm vĩ mô và mở rộng quyền tự chủ của cơ sở.
Đến năm 1988, QLXN ở XNQD đã được rành rọt hơn với Nghị định 50/HĐBT.Trong văn bản này: cơ cấu của XNQD gồm có đại hội công nhân viên chức, hội đồng xí nghiệp và giám đốc
Đến năm 1995, cơ cấu được cải tiến lần nữa trong Luật DNNN và gồm có giám đốc, bộ máy giúp việc (các phó giám đốc, kế toán trưởng và các phòng, ban chuyên môn, chức năng), đại hội công nhân viên chức, ban kiểm tra, các tổ chức chính trị xã hội.
Riêng ở trong các Công ty lớn có thêm hội đồng quản trị. Các quy định về QLXN trong luật đã được chi tiết hóa trong nhiều tài liệu (sau năm 1990).
Sự thuận tiện đã giúp ông quản lý chặt chẽ xí nghiệp. Ông cũng cần nó vì một nhu cầu tâm lý của mình. Ông đã được cử về xí nghiệp vì được tin tưởng của cấp trên nhiều hơn là tài năng của chính ông. Thành công của ông xuất phát nhiều từ lòng trung thành hơn là khả năng kinh doanh => Do vậy, ông phải nắm trọn vẹn và không ủy quyền cho ai quyết định cả Trong mô hình QLXN không có ý niệm ủy quyền mà QTKD coi trọng. Tuy nhiên, vì ôm đồm nên không biết nguyên tắc ấn định thẩm quyền, ông dễ dàng phong cho một người nhiều chức vụ. Một trưởng phòng có thể kiêm chức phó giám đốc kiêm thư ký công đoàn...
Thế nhưng, nếu do áp lực phát sinh từ tổ chức chính trị nội bộ Công ty ông sẵn sàng chia quyền. Ông giám đốc luôn luôn có một ông phó bên cạnh. Có khi ông phó có uy hơn ông giám đốc về mặt chính trị. Vì thế để cho yên ổn, ông thỏa hiệp bằng cách chia cho ông phó toàn quyền phụ trách một mảng công việc nào đó trong xí nghiệp.
Việc giám đốc không quan tâm đến chuyện ủy quyên cũng vì có một tiền lệ ấy là nguyên lý tổ chức của ủy ban 1 nhân dân, nơi thống lĩnh một địa bàn. Ở đó chỉ có chủ tịch quyết định, các giám đốc sở là tham mưu. Như thế, mô hình QLXN hoạt động theo các nguyên tắc của một cơ quan hành chính.
Ngoài ra, do cơ cấu tổ chức của xí nghiệp, “bộ tứ” chẳng hạn, không có ai vượt trội để ảnh hưởng đến người khác bằng cung cách làm việc, trong cách thức đối xử với nhân viên, nên XNQD không thể thiết lập được văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp nếu có thì các nơi đều giống nhau. Thí dụ, khi xí nghiệp có vấn đề gì liên quan đến công luận thì người xuất hiện thường là phó giám đốc.
Từ quản lý theo mục tiêu đến quản lý theo quá trình tiến tới ISO= QTKD2
Với sự đồng bộ của QTKD1, người ta giải quyết được vấn đề hữu hiệu và hiệu quả của sản xuất.
Tuy nhiên, do yêu cầu khách hàng, họ phải cạnh tranh và phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm không chỉ đạt mà còn phải gia tăng chất lượng.
Nói gì thì nói, muốn làm tăng chất lượng thì trước hết phải giữ cho cái hiện có không tụt xuống,như thế nghĩa là hàng sản xuất ngày hôm nay ít nhất vẫn phải có chất lượng như món hàng đó giao cách đây nửa năm.
Khởi đầu nhưng món hàng dễ gây nguy hiểm như máy bay, vũ khí, người ta đặt ra yêu cầu đạt và duy trì chất lượng. Sau đó yêu cầu này được mở rộng ra cho các loại hàng hóa khác. Và để làm việc này thì các tiêu chuẩn về chất lượng đã được đặt ra và ISO chính thức ra đời năm 1987.
Nội dung chính thức của nó là “xây dựng hệ thống chất lượng và phòng ngừa”.
Cách làm là: (1) đạt chất lượng đòi hỏi và (2) giữ không cho giảm sút trong những lần sản xuất khác nhau.
Việc đầu do các cơ quan chính quyền hay các hiệp hội chuyên ngành đưa ra.
ISO hiện diện trong các doanh nghiệp để làm việc 2. Nền tảng cua nó vẫn là QTKD1. Từ cái nền này, ISO phát động hai công tác mới:
Thứ nhất, đưa ra một cách nhìn khác về việc sản xuất. Nó coi việc sản xuất không chỉ thuần túy là những động tác chân tay, sản lượng ... mà thêm vào đó mục đích của công việc cái mà công việc phải đạt tới, và được gọi là chất lượng. Đấy là triết lý của ISO.
Thứ hai, chất lượng kia chắc chắn không chỉ phục vụ người sản xuất mà còn phục vụ người tiêu dùng. => Từ yêu cầu thực tế này, ISO đưa triết lý của vào trong quá trình sản xuất và đến tận từng người.
Trước kia khi sản phẩm nằm trên dây chuyền sản xuất và được giao từ người thợ này sang người thợ khác thì đó là công việc được chuyển giao giữa hai người, thí dụ từ B sang C.
Bây giờ vẫn như thế nhưng do gọi C là khách của B. Vẫn người cũ nhưng có tên mới, từ đồng nghiệp C trở thành khách hàng của B. Đó là một sự thay đổi khiến tạo ra một tác động tâm lý trong B, anh ta bị một ràng buộc về tâm lý là phải làm cho hàng của mình đạt chất lượng để không bị C là khách hàng từ chối. Đó là cách hành động của ISO.
Sản xuất là một vòng tròn khép kín dẫu nó trải ra trên nhiều xưởng khác nhau và ở những vùng khác nhau. Vậy nếu C là khách của B, thì B cũng sẽ là khách của A đang sản xuất ở một nơi nào đó mà sẽ giao hàng cho B.
ISO nhận việc sản xuất không còn theo từng xí nghiệp riêng lẻ và theo một quá trình đi từ người cung cấp nguyên liệu, đến người sản xuất và cuối cùng là người tiêu dùng. Do đó, nó thay đổi QTKD1 từ quản trị theo mục tiêu (làm cái gì, bao nhiêu) sang quản trị theo quá trình. Triết lý mới, hành động mới thì phải có sách mới, ISO gọi sách này là sổ tay chất lượng.
Số này ghi tóm tắt thủ tục và quy trình thực hiện, nêu rõ trách nhiệm từng người, từng bộ phận. Thủ tục và quy trình kia chính là những cái nguyên thủy đã được thiết lập trong các cẩm nang của QTKD1.
Nếu không có những thể thức nguyên thủy này thì ISO sẽ không bao giờ làm được quyển sổ tay chất lượng. Nó không thiết lập nên quy trình mới và chỉ bổ sung quy trình nguyên thuỷ bằng cách đưa ra những câu hỏi đế nếu quy trình nguyên thuỷ chưa có thì thêm vào.
Sở dĩ ISO làm được là vì những thể thức điều hành đã phát triển lâu dài và do vậy người ta khám phá các trường hợp làm giảm chất lượng. Để ngăn chặn việc giam chất lượng ISO nói là “phòng ngừa”, ta sẽ gọi quản lý chất lượng theo ISO là QTKD2 và ta thấy nó phát triển trên nền tảng của QTKD1.
Tuy nhiên có hai điểm cần thêm:
Một là, ISO chỉ bổ sung cho các quy trình nguyên thủy mà quy trình này lại có nhiều phần, nhiều loại. ISO hóa được thực hiện cho từng phần một, tùy doanh nghiệp định, như sản xuất, giao hàng…
Hai là, ISO không phổ biến ở Mỹ, dẫu rằng nơi này nêu lên yêu cầu về chất lượng đầu tiên. ISO được dùng ớ Châu Âu vì ớ đó có nhiều nước nên họ phải giống nhau thông qua một cái gì là tiêu chuẩn Mỹ có những tiêu chuẩn riêng.
Tái cấu trúc công ty
Sau năm1990, nền công nghiệp Mỹ phải thay đổi nhiều vì cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt, công nghiệp quốc phòng bị giảm sút, công nghệ tin học phát triển , các doanh nghiệp bị buộc phải cắt giảm chi phí để tồn lại trong khung cảnh cạnh tranh mới. Vì thế, các Công ty phải tái cấu trúc (re-engineering).
Tái lập Công ty dựa trên ba yêu cầu vừa mới phát sinh là:
(l) khách hàng là người quyết định,
(2) cạnh tranh quyết liệt hơn và
(3) phải thay đổi.
Sự thay đổi các tác giả đề nghị là:
Đơn vị công tác phải đổi xử phòng chuyên môn thành đội công tác;
Tính chất công việc từ đơn giản hoá thành đa dạng hoá;
Vai trò của người lao động từ người bị giảm sút thành người được uy quyền;
Cán bộ Công ty từ người điều hành sang lãnh đạo...
=> Ta gọi sự tái lập này là QTKD3.
Triết lý "đóng thùng gỗ" là triết lý "lấy người làm gốc", nó ảnh hưởng tới từng quyết định của nhà quản lý và là cơ sở của quan hệ giữa nhân viên và chủ, nó bồi đắp lòng trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp. Làm một nhà quản lý, bạn nên như người thợ đóng thùng.
Chỉ có khoa học quản lý mới tạo được tập thể hiệu quả vượt bậc.
Quản lý hiệu quả không chỉ dừng ở kinh nghiệm, mà nên phân tích, nghiên cứu kinh nghiệm, từ đó phát hiện nguyên nhân thành công và thất bại, biến nó thành khoa học.
Tổng quan
Vấn đề là gì?
Vấn đề là trạng thái mà ở đó có sự mâu thuẫn hay là có khoảng cách giữa thực tế và mong muốn
Mong muốn
Khoảng cách
Thực tế
Những sai lầm thường mắc phải khi giải quyết vấn đề
- Đi thẳng đến kết luận khi chưa xem xét kĩ các yếu tố
- Không xác định được vấn đề (quá nhiều thông tin)
- Quá nhấn mạnh vào hành động
Các bước giải quyết vấn đề
- Phân tích và xác định vấn đề
- Đưa ra các giải pháp
- Đánh giá và lựa chọn giải pháp
- Thực hiện giải pháp, theo dõi vấn đề phát sinh
Tại sao cần phải giải quyết vấn đề một cách có hệ thống
- Đảm bảo cho suy nghĩ của chúng ta có trật tự
- Giúp chúng ta khỏi đưa ra một phương án giải quyết vội vàng
- Giúp những người có liên quan hiểu rõ và chia sẻ thông tin với nhau
- Tránh tạo ra những thiếu sót đáng tiếc do không xem xét cẩn thận
- Giúp cho quá trình giải quyết vấn đề có hiệu quả hơn
Phân tích và xác định vấn đề
- Mô tả vấn đề
- Xác định rõ các nguyên nhân
- Đánh giá các nguyên nhân
- Kiểm tra và khẳng định nguyên nhân chính
Mô tả vấn đề cần:
+ Ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu
+ Lượng hoá
+ Mọi người thống nhất và đồng ý
+ Không áp đặt ý kiến của mình
+ Tìm ra một số dẫn chứng, sự kiện để bắt đầu
+ Lắng nghe và tìm ra những điểm chung
+ Tạo ra bầu không khí cởi mở trong các cuộc họp
Quy tắc tảng băng chìm
Qui tắc của phương pháp “Động não”
+ Số lượng quan trọng hơn chất lượng
+ Không được phép phê phán khi người khác đưa ra ý kiến
+ Những ý tưởng kỳ lạ nhất cần phải được khuyến khích
+ Ý kiến mới có thể được phát triển trên cơ sở ý kiến trước
+ Khuyến khích mọi người tham gia chứ không bắt buộc
Chiến lược là gì?
Chiến lược - “Khoa hoc về nghệ thuật quân sự được áp dụng vào việc kế hoạch hoá tổng thể và thực hiện trên toàn cục diện”
(American Dictionary)
Chiến lược là đường hướng hoặc kế hoạch kết hợp các mục tiêu lớn, chính sách và các chương trình hành động thành một thể thống nhất.
(Quinn, 1980)
Chiến lược bao gồm mục tiêu, chính sách, và các kế hoạch
(Dess and Miller, 1993)
Chiến lược là: Kế hoạch, mưu lược, mẫu hình vị thế và tầm nhìn
(Mintzberg, 1987)
Chiến lược là gì?
Một định hướng dài hạn mà tổ chức theo đuổi, được xây dựng trên cơ sở các thông tin sẵn có và nhãn quan chiến lược của quản lí.
Chiến lược là một lộ trình
Các kiểu tự duy chiến lược
Kiểm định tầm nhìn của bạn
Một bản tuyên bố về tầm nhìn là một báo cáo nói về vị trí mà công ty bạn mong đạt được. Bản tuyên bố tầm nhìn phác thảo ra tương lai của công ty bạn khi các bạn đạt được những mục tiêu và mục đích của mình. Các tuyên bố về tầm nhìn có thể khác biệt nhau về độ dài; có thể là một câu ngắn gọn, cũng có thể là một đoạn văn dài nhưng phải xác định được đích đến cuối cùng của bạn. VD Tầm nhìn của GK: Trở thành nhà cung cấp giải pháp đào tạo tổng thể hàng đầu tại Việt Nam. VD về hình ảnh của một đoàn tàu đi từ Hà Nội đến Sài Gòn. - Sứ mệnh con tầu: Chở hàng hoặc chở người - Tầm nhìn: Đến ga Sài Gòn an toàn - Giá trị cốt lõi: Hai đường ray đảm bảo con tầu đi đúng hướng
Tầm nhìn - trả lời câu hỏi bạn sẽ đi đến đâu (Câu hỏi What,Where,When..) Sứ mạng - trả lời câu hỏi bạn là ai trong câu chuyện đó (How, Who, Whose...)
* Có hiện thực không
* Có dễ truyền đạt không
* Có thích hợp với những người có quyền lợi không
* Có lâu bền không
TẦM NHÌN Vinamilk sẽ tập trung mọi nguồn lực để trở thành công ty sữa và thực phẩm có lợi cho sức khỏe với mức tăng trưởng nhanh và bền vững nhất tại thị trường Việt Nam bằng chiến lược xây dựng các dòng sản phẩm có lợi thế cạnh tranh dài hạn. SỨ MỆNH Vinamilk không ngừng đa dạng hóa các dòng sản phẩm, mở rộng lãnh thổ phân phối nhằm duy trì vị trí dẫn đầu bền vững trên thị trường nội địa và tối đa hóa lợi ích của cổ đông Công ty. Tầm nhìn và sứ mạng của tập đòan Mai Linh Tầm nhìn (Vision) "Trở thành nhà cung cấp dịch vụ tốt nhất nơi chúng tôi có mặt!" "To be the best service provider wherever we are!" Sứ mạng (Mission) "Mang sự hài lòng đến cho mỗi người, vì cuộc sống tốt đẹp hơn!" "Provide better satisfaction for better life!"
VD: Tầm nhìn
Vinamilk sẽ tập trung mọi nguồn lực để trở thành công ty sữa và thực phẩm có lợi cho sức khỏe với mức tăng trưởng nhanh và bền vững nhất tại thị trường Việt Nam bằng chiến lược xây dựng các dòng sản phẩm có lợi thế cạnh tranh dài hạn.
Sứ mệnh (tôn chỉ mục đích)
Bản tuyên bố về sứ mệnh là một tài liệu có mục đích thông báo sự tồn tại của công ty bạn. Một bản tuyên bố sứ mệnh xác định những giá trị và những quy tắc chi phối công ty của bạn và là một phần cốt yếu trong quá trình lên kế hoạch chiến lược. Các sứ mệnh có thể khác nhau về độ dài và nói về việc kinh doanh, mục đích và các giá trị. Sứ mệnh của công ty là lý do mà công ty tồn tại trên thị trường, bạn là ai và bạn sẽ mang lại cho khách hàng và cộng đồng những loại sản phẩm và dịch vụ gì. Những quyết định trong quá trình lên kế hoạch chiến lược và trong sự chi phối của công ty luôn luôn phải hài hòa với tuyên bố về sứ mệnh.
* Tại sao xã hội cần tới chúng ta? Mục đích của chúng ta là gì?
* Đặc trưng nổi bật của công ty chúng ta là gì?
* Khách hàng hiện tại, tiềm năng là ai? Thị trường mục tiêu là gì?
* Đâu là mối quan tâm kinh tế chính của chúng ta?
* Tiêu chuẩn giá trị, niềm tin cơ bản của công ty là gì?
Sứ mệnh
Vinamilk không ngừng đa dạng hóa các dòng sản phẩm, mở rộng lãnh thổ phân phối nhằm duy trì vị trí dẫn đầu bền vững trên thị trường nội địa và tối đa hóa lợi ích của cổ đông Công ty.
VD Sứ mệnh của GK: Sứ mệnh của GK là góp phần vào sự phát triển nguồn nhân lực của các doanh nghiệp Việt Nam, nhằm giúp các doanh nghiệp đạt mục tiêu tăng trưởng của mình.
Tầm nhìn
Một bản sứ mệnh có hiệu quả
* Phải ngắn gọn và cô đọng
* Rõ ràng và dễ hiểu
* Phải chỉ ra tại sao ta lại làm cái đó và lí do tồn tại của công ty là gì
* Không được quá hẹp
* Phải đưa ra định hướng cho các hoạt động thích hợp
* Phải thể hiện được các cơ hội
* Phù hợp với các khả năng riêng có của ta
Phải cho thấy được cam kết của chúng ta
Phải chi ra được cái mà xã hội nhớ đến chúng ta
Các đặc tính của mục tiêu
* Đề cập tới các vấn đề cả về mặt tài chính cũng như phí tài chính
* Phải thực hiện được với một nỗ lực nhất định
* Phải có tính thời gian
* Hạn chế mâu thuẫn
* Có thể đo lường được
* Tránh các hậu quả không lường trước
*
Để thực hiện mục tiêu phải thực hiện chiến lược bộ phận (Giải pháp) này. Muốn thực hiện được chiến lược bộ phận, nhà quản lý phải hoạch định giải pháp.
Giải pháp là những hướng đi được đưa ra trong điều kiện cụ thể tại thời điểm hoạch định của tổ chức.
VD: để đạt mục tiêu chiến lược tổng quát là tăng khả năng sinh lợi người ta hoạch định chiến lược là: chiến lược dựa vào bản thân công ty (theo cách phân loại 1, chiến lược 3 ở trên) và chiến lược khai thác các khả năng tiềm tàng (theo cách phân loại 2, chiến lược 1 ở trên) , từ đó hoạch định một loạt giải pháp sau:
Đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh để tăng doanh thu
Xâm nhập thị trường sâu hơn, rộng hơn để tăng lượng bán ra.
Phát triển thị trường mới ở nhiều địa điểm và quốc gia khác nhau
Phát triển sản phẩm mới
Để thực hiện giải pháp xâm nhập thị trường (giải pháp 2), nhà quản lý lại phải hoạch định 1 loạt các biện pháp (Gọi là kế hoạch hành động - Biện pháp chính là kế hoạch hành động chi tiết, cụ thể, có nội dung công việc, kinh phí cho nó, có phân công người phụ trách, ghi rõ thời gian thực hiện thực hiện biện pháp, kết quả mong đợi từ áp dụng biện pháp) cụ thể để triển khai như:
Mở thêm một số điểm bán, của hàng (nêu danh mục cửa hàng)
Thay đổi quảng cáo (ghi rõ nội dung quảng cáo)
Giảm giá hay bán trả chậm (ghi nội dung cụ thể)
Một ngày nọ, thỏ già nhìn thấy thỏ trẻ đang chạy hớt ha hớt hải bèn gọi lại hỏi chuyện:
- Tại sao cháu lại chạy loạn lên thế?
- Bác không biết là mùa săn bắn đã đến rồi sao?
- Chàng trai ạ, ta có một cách để giải quyết việc đó. Cháu hãy biến mình thành một cây to, dù người thợ săn có đi qua cũng không thể bắn cháu được, vì họ cứ tưởng cháu là một cái cây.
- Cách này thật tuyệt! Sao trước đây cháu không nghĩ ra nhỉ? Cám ơn bác nhiều lắm.
Thỏ già lại nhẹ nhàng rảo bước trong rừng. Được một lúc nó nghe tiếng thỏ trẻ đuổi theo:
- Bác ơi, nhưng làm thế nào để biến được thành một cái cây?
Thỏ già đứng lại, nhún vai nói:
- Chàng trai, ta đã đưa cho cháu một cách tốt, cháu phải cảm ơn ta chứ không nên làm phiền ta bằng những câu hỏi đó. Cháu nên tự mình suy nghĩ mới phải chứ.
Bài học kinh doanh:
Trong kinh doanh, thực tế cho thấy, một chiến lược được vạch ra rất tốt nhưng lại không được triển khai thực hiện cho tốt, thì chiến lược đó cũng không có giá trị gì cả.
“Nếu bạn có chiến lược giống như đối thủ thì bạn không hề có chiến lược. Nếu chiến lược là khác biệt, nhưng rất dễ bị sao chép thì đó là một chiến lược yếu kém. Còn nếu chiến lược này khác biệt độc đáo và rất khó bị sao chép, bạn có một chiến lược mạnh và bền vững.”
Xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Giai đoạn 1: Đưa vào các số liệu phân tích ban đầu
Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong doanh nghiệp (IFE)
Ma trận về thông tin cạnh tranh CI
Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngòai
Giai đoạn 2: Giai đoạn kết hợp
Với 5 ma trận:
Ma trận SOWT
Ma trận đánh giá hành động và vị trí chiến lược của doanh nghiệp SPACE
Ma trận Porfolio (Quan hệ giữa thị phần và tăng trưởng thị trường)
Ma trận các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp (IE)
Ma trận chiến lược chính MS
Giai đoạn 3: Giai đoạn quyết định - sử dụng ma trận kế hoạch chiến lược định lượng QSPM
Giai đoạn 1: Trong giai đoạn này phải lập các ma trận (đúng hơn là các bảng sau):
1. Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong của doanh nghiệp (Internal Factor Estimation) được hình thành bằng cách cho điểm và lập thành ma trận ở dạng bảng:
2. Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài và mức đáp ứng của doanh nghiệp đang xét đối với các yếu tố đó. (Gọi là ma trên EFE, External Factor Estimation) được hình thành như bảng:
3. Ma trận về thông tin cạnh tranh (CI, Competitive Information) có thể minh họa theo bảng:
Giai đoạn 2: Trong giai đoạn này phải lập năm bảng ma trận, chủ yếu là để kết hợp các yếu tố để tìm ra các phương án khả thi.
1./ Ma trận nguy cơ - cơ hội - điểm yếu - điểm mạnh SOWT.
SO: Thế mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài thành chiến lược phát huy điểm mạnh để tận dụng cơ hội
WO: Kết hợp điểm yếu bên trong với cơ hội bên ngoài hình thành chiến lược khắc phục điểm yếu bằng cách tận dụng cơ hội
ST: Kết hợp thế mạnh bên trong với đe doạ bên ngoài hình thành chiến lược lợi dụng thế mạnh để đối phó với nguy cơ từ bên ngoài
WT: Kết hợp điểm yếu bên trong với mối đe doạ bên ngoài hình thành chiến lược tối thiếu hoá điểm yếu và phòng thủ trước mối đe doạ từ bên ngoài.
VD: SOWT
Điểm mạnh là có nhiều vốn được kết hợp với cơ hội là nhu cầu thị trường đang tăng mạnh sẽ dẫn đến kết luận là nên tiếp tục phát triển sản xuất mạnh.
Điểm yếu là thiếu công suất sản xuất được tổ hợp với cơ hội là có doanh nghiệp muốn bán lại xí nghiệp sẽ dẫn đến quyết định nên mua lại xí nghiệp định bán.
Điểm mạnh là doanh nghiẹp có tiềm lực nghiên cứu công nghệ tốt được tổ hợp với nguy cơ là các đối thù có trình độ phát triển công nghệ cao hơn sẽ dẫn đến quyết định là nên đẩy mạnh việc mua các phát minh và sáng chế hay tình báo kỹ thuật.
Điểm yéu là tinh thần lao động của đội ngũ công nhân của doanh nghiệp yếu được tổ hợp với nguy cơ là các doanh nghiệp bên ngoài đang hoạt động mạnh mẽ để thu hút lao động sẽ dẫn đến quyết định là doanh nghiệp phải tăng phúc lợi cho công nhân mình.
2./ Ma trận đánh giá hành động và vị trí chiến lược của doanh nghiệp (SPACE): Ma trận này được xem xét hai nhân tố bên trong: sức mạnh tài chính FS (Finalcial Strong) và lợi thế cạnh tranh CA (Competitive Advantage) và hai nhóm yếu tố bên ngoài: sự ổn định của môi trường kinh doanh ES (Environmental Stability) và sức mạnh của ngành IS (Industrial Strong).
3./ Ma trận Porfolio: Đây là ma trận xem xét mối quan hệ giữa thị phần của doanh nghiệp và mức gia tăng nhu cầu sản phẩm trên thị trường để xác định chiến lược cho doanh nghiệp.
4./ Ma trận kết hợp các yếu tố bên trong (IFE) và bên ngoài (EFE):
5./ Ma trận chiến lược MS: xem xét hai yếu tố: Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng của thị trường.
Giai đoạn 3: Lập ma trận kế hoạch chiến lược định lượng (QSPM). Các bước tiến hành như sau:
Xây dựng đội ngũ hiệu quả vượt bậc
1- Tạo môi trường thuận lợi cho nhân viên
Để xây dựng đội ngũ hiệu quả vượt bậc, nhà quản lý phải gắng tạo môi trường thuận lợi cho nhân viên, bao gồm: cấp quản lý phải giải quyết vấn đề của tập thể, dành đủ thời gian tiếp xúc và thông hiểu cấp dưới, phải có thành tích và chiếm được lòng tin của cấp dưới. Nhà quản lý phải tạo sự hợp tác, hài hoà, tin tưởng lẫn nhau giữa các nhân viên. Dù có hiềm khích giữa các thành viên công ti, vẫn phải nêu cao tinh thần "Tuy không sinh cùng năm cùng tháng nhưng nguyện chết cùng ngày".
2- Tạo niềm tự hào cho các thành viên
Mỗi nhân viên đều mong tập thể của mình có tiếng tăm, mà một tập thể có tiếng phải có tiêu chí độc đáo. Nếu không có tiêu chí đó, hoặc giả tiêu chí đó bị tổn hại, lòng tự hào tập thể của từng nhân viên sẽ tiêu tan. Rất nhiều nhà quản lý không biết rằng lòng tự hào của nhân viên chính là động lực cống hiến của họ.
Vì thế, từ lập ra hệ thống hình tượng của công ty đến khích lệ các bộ phận, đều có ảnh hưởng sâu sắc tới từng thành viên và kích thích họ sáng tạo.
3- Tạo vị trí phù hợp với năng lực
Các thành viên cần có trách nhiệm đối với vị trí của mình, đồng thời phải hợp tác tốt với các thành viên khác. Chỉ như vậy, mỗi thành viên mới hiểu rõ vai trò của mình trong toàn bộ dây chuyền; chỉ như vậy, nhân viên mới là thành viên chân chính trong tập thể. Khi là một thành viên chân chính, nhân viên sẽ căn cứ vào nhu cầu của tập thể mà lập tức hành động, không cần chờ lệnh cấp trên. Nói cách khác, từng thành viên sẽ tự lựa chọn phương án thích hợp để thực hiện nhu cầu và mục tiêu chung của tập thể.
Vì thế, tập thể hiệu quả vượt bậc phải có các thành viên mà năng lực phù hợp với vị trí, từ đó mới phát huy được toàn bộ sức mạnh mà tiến lên.
Ai cũng đều trong vòng quản lý, bởi quan hệ con người là quan hệ qua lại, anh cũng phải chịu một kiểu điều khiển nào đó.
Nhà quản lý giỏi và người giỏi quản lý không giống nhau
10 loại việc quản lý dễ có thành tích
1. Đánh giá phẩm chất của một số nhân viên (thậm chí cả khuyết điểm) để mọi người thấy năng lực nhìn người của mình.
2. Trưng cầu đề án hợp lý hoá quy trình làm việc, sau đó phê phán một số đề án kém cỏi.
3. Viết tổng kết, bao gồm tổng kết năm, tổng kết quý, tổng kết tháng, tổng kết tuần. Nói tổng kết để cải tiến, sau đây chúng ta sẽ có bước tiến vượt bậc. Mỗi lần tổng kết là phải mở hội nghị "Xốc lại khí thế, tiến tới tương lai".
4. Họp hành. Cả công ty là những cuộc họp hành, hội nghị mở rộng. Không họp hành, lấy gì quản lý nhân viên? Cần giải quyết một vấn đề? Hãy lấy ý kiến quần chúng, sau đó mở ít nhất ba hội nghị để quyết định, vừa tỏ rõ tính dân chủ, vừa cho thấy sự thận trọng.
5. Tìm những nhân viên tốt để bồi dưỡng nghề nghiệp. Những nhân viên này thực ra có tố chất rất kém, song phải làm cho họ hiểu rằng "hôm nay không cố gắng làm việc, ngày mai phải cố gắng tìm việc". Nếu ngay đến ta là giám đốc mà đám người đó không biết "cố gắng" lấy lòng, làm sao họ biết "cố gắng" lấy lòng một khách hàng bình thường?
6. Cải tạo lại phòng làm việc. Phòng làm việc của giám đốc càng xa hoa, nhân viên càng sùng bái giám đốc.
7. Tạo hình tượng lãnh đạo. Người đẹp nhờ lụa, lúa tốt nhờ phân. Quần áo càng sang trọng càng xứng là lãnh đạo. Kinh nghiệm lịch sử đã chứng minh: người ta có thể không tôn trọng anh, song người ta tôn trọng áo quần của anh. Nếu như anh mặc toàn đồ hiệu (như complet Anh, giầy Ý), lại kèm theo chiếc xe sang trọng (như Mercedes, BMW, Rolls-Royce), sẽ thấy ngay anh và nhân viên thuộc hai đẳng cấp khác nhau, nhân viên sẽ vì thế sinh lòng kính trọng anh.
8. Ra nước ngoài khảo sát. Ra nước ngoài khảo sát không có gì quan trọng, quan trọng là tầm mắt bạn được mở mang, bạn có thể dùng nó để bàn chuyện gái.
9. Thay đổi danh xưng cán bộ. Thay đổi danh xưng sẽ tạo ấn tượng đổi mới, nó cũng như sắp xếp lại đồ đạc trong gia đình. Ví như, đổi tên "phòng tổ chức" thành "ban nhân lực", "ban quản lý xuất - nhập" thành "ban lưu thông". Còn phòng tổ chức và ban nhân lực, ban quản lý xuất nhập và ban lưu thông khác nhau cái gì, có trời mới biết.
10. Nói không ngưng nghỉ. Nếu như bạn không có quyền lực, nhiều khả năng người nghe sẽ bỏ đi. Còn giờ không như vậy, bạn nói không ngưng nghỉ, càng cho thấy sự tâm huyết của bạn. Bạn càng nói, người nghe càng không dám ngủ gật. Cuối cùng, mỗi lần ngưng nói là bạn lại được vỗ tay hoan hô.
Định hướng công việc của giám đốc:
1. Cho mọi người thấy tầm quan sát vĩ mô.
2. Mãi mãi thong dong (nên nhớ: làm gì cũng không được khẩn trương).
3. Giao công việc cho những kẻ ngốc nghếch.
4. Tránh trả lời bất cứ câu hỏi nào. Nếu có câu hỏi, tốt nhất là hướng dẫn kẻ đi hỏi tự tìm đáp án; nếu không, hãy để nhân viên trao đổi, thảo luận!
Ngụ ngôn các bài học lãnh đạo
Thấy quạ ngồi trên cây cả ngày mà không làm gì, thỏ con hỏi: - Tôi có thể ngồi cả ngày mà không làm gì như anh không? - Tất nhiên rồi! Sao lại không nhỉ? - quạ nói. Vậy là thỏ con ngồi dưới đất nghỉ ngơi. Bỗng cáo già xuất hiện vồ lấy thỏ và ăn thịt. Bài học rút ra: Để được ngồi không, bạn phải ngồi ở vị trí rất, rất cao.
Ngụ ngôn các bài học lãnh đạo
Hai bồ câu trống và mái tha hạt thóc về đầy tổ, cả hai rất ư hạnh phúc. Gặp mùa khô hanh, hạt thóc ngót lại. Con trống thấy tổ vơi đi liền trách con mái ăn vụng. Con mái cãi lại liền bị con trống mổ chết. Mấy hôm sau mưa xuống, hạt thóc thấm nước và nở lớn. Bồ câu trống ngẩn tò te. Bài học rút ra: “Thịt” nhân viên một cách hồ đồ không làm bạn trông thông minh hơn.
Ngụ ngôn các bài học lãnh đạo
Gà tây nói với bò tót: - Tôi muốn nhảy lên ngọn cây kia nhưng không đủ sức. - Vậy thì rỉa phân tôi đi - bò tót khuyên. Gà tây mổ phân bò tót ăn và thấy tăng lực, thật sự đủ sức để nhảy lên cành cây thứ nhất. Ngày tiếp theo, sau khi ăn một ít phân bò, gà tây nhảy được đến cành cây thứ hai. Cứ thế đến nửa tháng sau, gà tây đã lên tới ngọn cây. Không lâu sau đó, gà tây bị một bác nông dân bắn rơi. Bài học rút ra: Sự ngu ngốc có thể đưa bạn lên đỉnh cao nhưng không thể giữ bạn ở đó mãi.
Ngụ ngôn các bài học lãnh đạo
Một ông vua nọ do chán chuyện triều đình nên mua một con khỉ đem về. Con khỉ làm trò rất hay nên được vua sủng ái, đi đâu cũng mang theo, cho mặc quần áo, giao cả kiếm cho giữ. Một hôm, vua ra vườn thượng uyển ngủ. Có con ong bay đến đậu lên đầu vua. Khỉ muốn đuổi ong, lấy kiếm nhắm vào ong mà chém. Đức vua băng hà.
Bài học rút ra: Trao quyền cho những kẻ không có năng lực thì luôn phải cảnh giác.
Ngụ ngôn các bài học lãnh đạo
Chim non đang bay về phương nam để tránh rét thì bị đông cứng và rơi xuống một cánh đồng. Bò cái đi ngang bèn phóng uế lên người nó. Trong lúc bị đông cứng vì rét, bãi phân bò lại làm chim non thấy ấm lên và tỉnh lại. Nó cất tiếng hót vì sung sướng thì một chú mèo đi qua nghe thấy. Mèo tìm đến bãi phân bò lôi chim non ra rồi ăn thịt. Bài học rút ra: 1) Không phải bất cứ ai vấy bẩn lên bạn cũng đều là kẻ thù. 2) Không phải bất cứ ai kéo bạn ra khỏi chốn bẩn thỉu cũng đều là bạn. 3) Khi bạn đang ở sâu trong chốn bẩn thỉu, hãy im lặng.
Ngụ ngôn các bài học lãnh đạo
Quạ thấy chó ngậm khúc xương quá ngon, bèn đánh liều lao xuống mổ vào đầu chó. Bị bất ngờ, chó bỏ chạy để lại khúc xương. Quạ ngoặm lấy khúc xương nhưng nặng quá không tha nổi. Chó sau khi hoàn hồn, thấy kẻ tấn công chỉ là con quạ nên quay lại táp một cú, quạ chết tươi. Bài học rút ra: Đừng chiếm thị trường nếu bạn nhắm không giữ được nó.
Ngụ ngôn các bài học lãnh đạo
Ba con thú dữ là sói, gấu và cáo thay nhau ức hiếp đàn dê. Dê đầu đàn bèn nói với cả bầy: “Ta nên mời một trong ba gã sói, gấu hay cáo làm thủ lĩnh của chúng ta”. Cả đàn dê bất bình, nhưng ba “hung thần” nghe tin này rất mừng. Thế là chúng quay sang tranh giành nhau quyền lãnh đạo, cuối cùng cáo dùng bẫy hại chết được sói và gấu. Nhưng rồi một mình nó không còn ức hiếp đàn dê được nữa. Bài học rút ra: Hãy thận trọng khi nghe tin bạn sắp được làm sếp!
Hai vợ chồng nhà nọ rất nghèo khổ, nhưng chẳng chịu làm lụng gì, suốt ngày chỉ cầu khấn thần thánh. Bị cầu khẩn riết quá, thần linh dành cho họ một con gà mái. Quá thất vọng, họ bàn nhau giết gà ăn thịt. Hôm sau, khi cầm dao ra ổ, anh chồng thấy gà mái đã đẻ ra một quả trứng bằng vàng rất to.
Phát tài rồi ! Phát tài rồi !
Hai vợ chồng hò reo nhảy múa. Họ làm cho gà mái một cái ổ ấm áp, cho gà ăn những thức ăn ngon.
Quá tham lam, mụ vợ bàn với chồng:
- Con gà này ngày nào cũng đẻ trứng vàng thì ất trong bụng nó còn nhiều vàng lắm. Hay ta giết quách nó đi, lấy hết vàng ra.
Lão chồng nghe lời mụ vợ, lấy dao giết gà. Hóa ra trong bụng gà mái chẳng còn một quả trứng vàng nào.
Chẳng mấy chốc, họ đã phải bán hết đồ đạc trong nhà, sống lần hồi qua ngày.
Bài học kinh doanh:
Gia nhập thương trường, mỗi một doanh nghiệp đều phải có bí quyết kinh doanh. Bí quyết đó phải được triển khai lâu dài, xuyên suốt trên mọi mặt hoạt động của công ty. Chứ chỉ hám lợi ngắn, nôn nóng, vội vàng, thì dù "bí quyết" có là gì, cũng chả mấy chốc sẽ thất bại.
Maier và Lawler (1973) đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau:
Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực
Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực
Động lực = Khao khát x Tự nguyện
động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức.
Phân cấp nhu cầu - Maslow
Nhu cầu sinh lý, đó là như cầu cơ bản để sinh tồn, như ăn, uống, v. v…
Nhu cầu an toàn, bao gồm như cầu được bảo vệ cả về tinh thần lẫn vật chất, ví như không lo bị trộm cướp đe doạ, bảo hiểm trước các bất trắc, bảo hiểm cho công việc và sau khi về hưu, v. v…
Nhu cầu giao tiếp xã hội, ai cũng là một thành viên trong xã hội, có nhu cầu giao tiếp và thuộc về nhóm để trao đổi tình cảm, sở thích, giúp đỡ và khen lẫn nhau.
Nhu cầu được tôn trọng, kể cả nhu cầu được người khác tôn trọng và cảm giác tự tôn.
Nhu cầu thực hiện khát vọng, là thông qua nỗ lực của bản thân mà biến mong muốn của mình thành hiện thực, từ đó tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống và công việc.
=> Theo luận tháp nhu cầu của Maslow, chỉ có thoả mãn nhu cầu của một người mới kích thích được người đó.
Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2010
Thứ Tư, 17 tháng 3, 2010
BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO - BẢN DỊCH CỦA CỤ NGÔ TẤT TỐ
Thay trời hành hoá, hoàng thượng truyền rằng.
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Cho nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;
Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét,
Chứng cứ còn ghi.
Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thưà cơ gây hoạ
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi !
Lẽ nào trời đất dung tha?
Ai bảo thần dân chịu được?
Ta đây:
Núi Lam sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.
Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối.
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cỏi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng
Quân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tuỵ Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.
Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ
Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;
Than ôi!
Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Cho nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;
Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét,
Chứng cứ còn ghi.
Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thưà cơ gây hoạ
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi !
Lẽ nào trời đất dung tha?
Ai bảo thần dân chịu được?
Ta đây:
Núi Lam sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.
Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối.
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cỏi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng
Quân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tuỵ Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.
Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ
Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;
Than ôi!
Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.
HỊCH TƯỚNG SĨ
Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính Đức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có ? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được ?
Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương Công Kiên là người thế nào ? Nguyễn Văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào ? Vậy mà đem thành Điếu Ngư nhỏ tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu ! Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào ? Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào ? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt !
Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.
Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Đi thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười\. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?
Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai\. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào ! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng ?
Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc "đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ" làm nguy; nên lấy điều "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội" làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhaị Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không ?
Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.
Vì sao vậy ? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa ?
Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta.
Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương Công Kiên là người thế nào ? Nguyễn Văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào ? Vậy mà đem thành Điếu Ngư nhỏ tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu ! Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào ? Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào ? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt !
Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.
Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Đi thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười\. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?
Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai\. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào ! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng ?
Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc "đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ" làm nguy; nên lấy điều "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội" làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhaị Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không ?
Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.
Vì sao vậy ? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa ?
Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta.
MƯU KẾ NGƯỜI XƯA
1. Dương đông kích tây (Đánh lạc hướng đối phương) Kế "Dương đông kích tây" là reo hò giả vờ như thật sự đánh vào phía đông, nhưng chủ yếu lại đánh vào phía tây. Trong tất cả mọi vấn đề của xã hội, từ chiến trường, thương trường, chính trường cho đến tình trường; nếu muốn điều này nhưng lại giả làm điều kia, nói điều này mà làm điều nọ, ấy là "Dương đông kích tây" vậy. Kế này mờ ảo vô song. Nó rất khó biết, khó đoán, bị đánh bất ngờ. Kế này nhằm chuyển mục tiêu để lừa dối đối phương, khiến cho địch sơ ý, lừa lúc bất ý tấn công kẻ không chuẩn bị. Có nhiều cách thức để thực hiện kế này, như: - Tạo tin đồn. - Làm rối tai rối mắt địch. - Buộc đối phương lo nhiều mặt. - Mê hoặc ý chí của địch. - Nghi binh. - Làm phân tán lực lượng đối phương. - Làm yếu lực lượng đối phương, lực lượng phòng vệ địch. Nguyên tắc của " Dương đông kích tây" là bí mật và chủ động. Bị động coi như phải chịu sự khống chế của địch. Điều kỵ khi dùng kế " Dương đông kích tây" là để lộ cơ. Lộ cơ là mất hết khả năng phòng bị, chuẩn bị. Dù là trên chiến trường, thương trường hay chính trường cũng đều phải giữ bí mật và nắm được thế chủ động. 2. Điệu hổ ly sơn (Dụ hổ ra khỏi rừng) Kế "Điệu hổ ly sơn" là nhử, dụ hay khuấy động làm cho con hổ ra khỏi rừng. Kế "Điệu hổ ly sơn" có hai lối: Một là nhử hổ ra khỏi rừng để dễ dàng giết hổ. Hai là đuổi hổ đi để dễ bắt giết những loại hồ ly vẫn dựa oai hổ mà hoành hành. 3. Nhất tiễn hạ song điêu (Một mũi tên hạ hai con chim) Kế "Nhất tiễn song điêu" là dùng một mũi tên bắn chết hai con chim. Ý của mưu kế này là dùng sức lực tối thiểu để đạt đến hiệu quả tối đa. 4. Minh tri cố muội (Biết rõ mà làm như không biết) Kế "Minh tri cố muội" là biết thật rõ chuyện đấy, nhưng làm ra vẻ không biết gì. Với người xưa, đây là một triết lý xử thế rất cao, mục đích lại ẩn trốn tất cả những tiếng thị phi nghi hoặc, nhưng theo nghĩa mưu kế, nó là một thái độ thâm sâu. Cái đức của người quân tử không thể không cho thiên hạ biết, nhưng cái mưu kế của trượng phu không thể không giấu thiên hạ. Tóm lại, biết rất nhiều mà tỏ ra không biết một là kế "Minh tri cố muội" vậỵ. 5. Du long chuyển phượng (Biến rồng thành phượng) Kế "Du long chuyển phượng" là biến cái này thành cái kia, bên trong là hình rồng đó, nhưng làm cho nó trở thành phượng. Cái kế này rất phổ biến, trong dân gian ta gọi là "Treo đầu dê, bán thịt chó". 6. Mỹ nhân kế (Kế dùng gái đẹp) "Mỹ nhân kế" là dùng gái đẹp để làm xoay chuyển, thay đổi tình thế mà những cái khác không thể thực hiện được. Giai nhân từ ngàn xưa đến nay bao giờ cũng là đề tài chính. Tuy là phái yếu, không thể vác gươm đao mà đánh giặc, nhưng các nàng có thể thắng được bằng đôi mắt biếc và nụ cười xinh đẹp. Có những bức thành kiên cố cả mười vạn quân không hạ nổi, nhưng nó có thể bị sụp đổ bởi ánh mắt mỹ nhân. Sức mạnh của mỹ nhân đặc biệt là có ảnh hưởng đối với người anh hùng, người có quyền thế. 7. Sấn hỏa đả kiếp (Theo lửa mà hành động) Kế "Sấn hỏa đả kiếp" là lợi dụng lúc loạn để thao túng, lúc tình hình rối ren mà sắp xếp theo ý muốn. Có hai loại "Sấn hỏa đả kiếp": Một là theo lửa để mà đánh cướp. Hai là chính ta phóng hỏa mà đánh cướp. Theo lửa tức là thừa lúc người ở trong cơn nguy biến mà ta quấy hỗn loạn thêm. Phóng hỏa tức là chính ta gây ra sự hỗn loạn mà thực hiện theo ý muốn của ta. Theo lửa hay phóng hỏa cùng đi chung vào một mục đích là đánh địch và đoạt của địch để tạo cơ hội cho ta. Theo lửa thì dựa vào thời cơ sẵn có. Phóng hỏa thì tự ta tạo ra thời cơ. Không thể phê phán theo lửa hay phóng hỏa, cái nào hay, cái nào dở, cái nào tốt, cái nào xấu, vì cả hai giống như một sự biến ảo giữa không khí và nước. Trong sử sách, người ta thấy tay phóng hỏa giỏi là Trương Nghi. Một mình Trương Nghi đã phá tan thế hợp tung bằng cách dối Tề, lừa Triệu, dọa Ngụy, thuyết Yên, bịp Sở. Trương Nghi thật là con người có cái lưỡi bằng lửa thiêu đốt cả sáu nước, dựng thành cơ nghiệp thống nhất cho nhà Tần. Khổng Minh tuy là một nhà chính trị lỗi lạc tài tình, nhưng cái thế của ông ngay từ đầu chỉ là cái thế phải theo lửa để gây vốn: Lưu Bị bị Tào Tháo đánh chạy đến cùng đường, Khổng Minh đành tính kế nương nhờ Tôn Quyền rồi ăn theo cuộc chiến tranh Nam - Bắc, ăn theo trận Xích Bích để cướp Kinh Châu. "Sấn hỏa đả kiếp" đòi hỏi một khả năng hành động mau lẹ như con ó bắt mồi. 8. Vô trung sinh hữu (Không có mà làm thành có) Kế "Vô trung sinh hữu" là từ không mà tạo thành có. Thiên hạ không loạn, trật tự không rối thì làm gì có anh hào xuất lộ! Bởi lẽ đó, những anh hào thường được gọi là kẻ "chọc trời khuấy nước". Mục đích của khuấy nước là làm rối beng sự việc lên để dễ bề thao túng. Thủ đoạn của khuấy nước là gây tiếng tăm, tung tiếng đồn, gây xáo trộn rồi dựa vào đó mà thủ lợi. Kế "Vô trung sinh hữu" hình dung là tu hú đẻ nhờ, tổ thì chim khác làm, nhưng con tu hú cứ đến đặt trứng của nó vào đó, rồi lại nhờ loài chim khác ấp trứng luôn, khi trứng nở thành chim, tu hú con bay về với bầy tu hú. 9. Tiên phát chế nhân (Ra tay trước để chế phục đối phương) "Tiên phát chế nhân" là ra tay trước để dành chiếm ưu thế, để đoạt lợi, để bắt lấy sự chiến thắng. Kế "Tiên phát chế nhân" là không nói quá xa, viễn vông, mà phải nhìn vào thực tế gần nhất. Các vụ xảy ra trong lịch sử như: Lý Thế Dân tại Huyền Vũ Môn, Võ Tắc Thiên phế lập Lư Lăng Vương, Ung Chính cướp Bảo Tòa, Từ Hi độc sát Quang Tự, Gia Cát Lượng lấy đất Quang Trung... Tất cả đều là áp dụng thủ đoạn "chớp nhoáng" không cho địch kịp trở tay, không cho dư luận phản ứng kịp. Vẫn có câu "Tiên hạ thủ vi cường" là vậỵ. 10. Đả thảo kinh xà (Đập cỏ làm cho rắn sợ) Kế "Đả thảo kinh xà" là đập vào cỏ, làm động cho rắn sợ. 11. Tá đao sát nhân (Mượn đao để giết người) Kế "Tá đao sát nhân" là mượn dao để giết người, mượn tay người khác để giết kẻ thù của mình. Ngạn ngữ Trung Quốc có câu: “Sát nhân bất kiến huyết, kiến huyết phi anh hùng”. (Giết người không thấy máu, thấy máu không anh hùng). Trên đời dĩ nhiên chưa có kẻ nào chỉ giết người mà thành anh hùng, nhưng cũng hiếm có tay anh hùng nào không giết người. Điểm khác nhau không ở có hay không, mà ở chỗ thông minh hay ngu xuẩn. Tào Tháo mượn Lưu Biểu giết Nễ Hành, mượn lòng quân giết Dương Tu rồi lại được làm cái việc mèo già khóc chuột, thật đáng kể là một tay thông minh, gian hùng. 12. Di thể giá họa (Dùng vật gì để vu khống người ta) Kế "Di thể giá họa" là đem xác chết hay đồ vật gì bỏ vào nhà người khác để giá họa. Kế này thường được dùng bởi khối óc quỷ quyệt thông minh, tự mình không ra mặt mà làm cho đối phương bị hại. Như vậy gọi là "giết người không thấy máu". 13. Khích tướng kế (Kế chọc giận tướng giặc) "Khích tướng kế" là kế chọc giận tướng giặc, làm tướng giặc nổi giận. Nổi giận sẽ mất sáng suốt, thiếu suy nghĩ, không tự chủ được con người mình. Mạnh Tử nói: "Nhất nộ nhi an thiên hạ". Trong đời có nhiều sự việc được thành tựu bằng một cơn giận và cũng có nhiều việc thất bại bởi một cơn giận. Bởi vậy cái kế khích tướng cũng là một trong những diệu kế, nếu đạt ra thì kiến thiên hạ, cùng thì mang họa vào thân. Khích tướng còn là khơi dậy cái hùng khí của người khác để người ấy làm việc cho ta. Đối tượng tốt nhất của kế khích tướng là những người có tính tình bạo tháo hay sẵn sàng phẫn nộ. Tuân Tử bảo rằng: “Lời nói khéo êm như lụa, lời nói ác nhọn như giáo mác”. Thuyết là tiến dẫn lời nói, cái nghĩa căn bản của thuyết làm cho người ta nghe theo. Hiệu quả của thuyết rất lớn. Bởi thế mới có câu: "Thiên hạ tĩnh, nhất ngôn sử chi động. Thiên hạ động, nhất ngôn sử chi tĩnh". (Thiên hạ đang yên lặng, một lời nói làm náo loạn. Thiên hạ đang náo loạn, một lời nói làm lắng dịu). Căn bản mưu thuật của thuyết, theo Tuân Tử có bốn điều: Cơ, dũng, trí, biến. - Cơ: Là xem thời độ thế, nhân lợi thuận tiện. - Dũng: Là quyết đoán nói những điều không ai dám nói. - Trí: Là biết rõ sự tình, tâm lý, giải quyết được thắc mắc, chế phục được người. - Biến: Là biến hóa, trong các trường hợp bất trắc. Mục đích của thuyết có năm điều: - Làm cho người hiểu rõ. - Làm cho người tin tưởng. - Làm cho người đồng tình. - Làm cho người phục. - Làm cho người theo. Đạt được năm mục đích trên thì kể như nắm chắc phần thắng trong tay. 14. Man thiên quá hải (Lợi dụng sương mù để lẩn trốn) Kế "Man thiên quá hải" là lợi dụng lúc trời sương mù mà lẩn trốn, vượt qua hay hành động ngay trong lúc sương mù. Man thiên, trời u ám không phải hoàn cảnh hoàn toàn bất lợi như một quẻ trong Dịch lý đã nói. Man thiên, không thể ngồi đợi nó tới như sương mù do thời tiết thiên nhiên, mà phải tạo ra nó. Kế "Man thiên" đem áp dụng thực hiện được cả hai mặt: tiêu cực lẫn tích cực. Tích cực là đem ánh sáng đến cho một tình thế mờ mịt. Tiêu cực là lẩn tránh một tai họa, là lợi dụng cơ hội sơ hở của địch để thoát bí. Ở trận Xích Bích, Khổng Minh đã giải quyết vấn đề thiếu tên bắn cho các cung thủ bằng cách lấy mười chiếc thuyền lớn chất đầy rơm, đợi lúc trời sương mù, âm thầm đến trại Tào Tháo nổi trống la hét làm như tấn công. Tào sợ ngụy kế, không dám xông ra, chỉ bắn tên như mưa vào các thuyền rơm. Bằng một đêm đánh trống reo hò, không chết một người, Khổng Minh đã lấy được của Tào Tháo cả trăm ngàn mũi tên. 15. Ám độ trần sương (Đi con đường mà không ai nghĩ đến) Kế "Ám độ trần sương" là bí mật đưa quân qua con đường mà không ai nghĩ rằng ta sẽ đi qua. Kế này áp dụng giữa lúc hai bên đang đấu tranh, chiến đấu với nhau. Mỗi bên đều ra sức giấu mục tiêu thật của mình rồi đưa ra mục tiêu giả mà lừa đối phương. Đây là công việc rất phức tạp, có một quá trình khúc triết. Như "Tôn Tử Binh Pháp" viết: “Việc binh là trá ngụy, có thể mà làm ra vẻ không có thể, dùng đấy mà tỏ ra không dùng, gần giả làm như xa, xa giả làm như gần. Lấy lợi mà dụ, gây rối mà đuổi, thấy khỏe thì tránh. Đầu tiên là làm mọi cách giảm nhược lực đối phương, sau rồi mới tiến hành dự định. Muốn dụng kế này phải là người có tầm nhìn xa hiểu rộng và một khối óc tuyệt vời. 16. Phản khách vi chủ (Đổi vị khách thành vị chủ) Kế "Phản khách vi chủ" là đổi địa vị khách thành địa vị chủ. "Phản khách vi chủ" là trong đấu tranh đang ở vào thế bị động nên phải tìm kế hoạch đến chủ động, khách vốn là địa vị bị chi phối, mọi việc đều do chủ đặt định sắp xếp. "Phản khách vi chủ" là nguyên tắc thường dùng trong đấu tranh. Có chủ động mới khống chế được cục diện. Không có chủ động, không thể thắng lợi. 17. Kim thiền thoát xác (Ve sầu vàng lột xác) "Kim thiền thoát xác” là con ve sầu vàng lột xác. Kế này dùng cho lúc nguy cấp, tính chuyện ngụy trang một hình tượng để lừa dối, che mắt đối phương, đặng đào tẩu chờ một cơ hội khác. Kế "Kim thiền thoát xác" có một phạm vi rất rộng rãi và phổ biến, bất cứ ai ở hoàn cảnh nào cũng có thể sử dụng được. 18. Không thành kế (Kế bỏ trống cửa thành) "Không thành kế" là kế bỏ thành trống, thành bỏ ngỏ. Kế này có hai loại: - Một là lúc tình thế cực khẩn cấp, nguy hiểm như treo trên sợi tóc, buộc phải dùng nghi binh để lừa dối đối phương mà dựa vào đó để trốn thoát. - Hai là rút lui với đầy đủ kế hoạch dụ cho địch quân xâm nhập rồi mới bao vây tiêu diệt. "Không thành kế" thực ra là một cách tạo nghi âm cho đối phương, mục đích là không cho đối phương sớm có một quyết định. 19. Cầm tặc cầm vương (Dẹp giặc phải bắt tướng giặc) "Cầm tặc cầm vương" là dẹp giặc phải bắt chúa giặc. Phương pháp bắt chúa giặc thật thiên biến vạn hóa, không cứ bằng sức mạnh hay bằng trí khôn. Các kế khác như "Điệu hổ ly sơn", "Mỹ nhân kế" hay "Man thiên quá hải" đều có thể dùng cho kế "Cầm tặc cầm vương". Để đối phó với một nhân vật anh hùng, thì dù một quả đạn mà giết hay dùng mỹ nhân kế mà nhử thì cũng như nhau. Nhưng đa số âm mưu cầm vương được hiệu quả bằng kích thích anh hùng và mỹ nhân kế. "Tự cổ anh hùng đa hiếu sắc" là vậy. Việt Vương thua trận rồi, mà chỉ dùng một nàng Tây Thi đã đủ giam cầm Phù Sai. Lý Viên muốn đoạt quyền của Xuân Thân Quân, nên đã cho cô em là Lý Yên sang làm tì thiếp. Đó là những cách gián tiếp để cầm vương. 20. Ban trư ngật hổ (Giả làm con heo để ăn thịt con hổ) Kế "Ban chư ngật hổ" là giả làm con heo để ăn thịt con hổ. Lão Tử nói: “Người cực khôn khéo mà làm ra vụng về”, cũng như câu "đại trí nhược ngu". Người đi săn thường học tiếng heo kêu rồi tự giả làm heo để nhử con hổ. Đối với kẻ thù, ta hãy giả ngu như một con heo, trên bề mặt cái gì cũng thuận chịu, lúc nào cũng cười, lúc nào cũng cung kính để cho địch mất hết nghi âm. Chờ thời cơ chín, tìm thấy chỗ nhược của kẻ thù mà đập đòn sấm sét. - Dùng việc không gì quan trọng bằng bí mật. - Hành động không gì quan trọng bằng thừa lúc bất ý. - Dò xét không gì quan trọng bằng làm cho địch không hay biết. - Bên ngoài ra vẻ loạn mà bên trong rất có cơ ngũ. - Tỏ ra đói mệt nhưng thật là no khỏe. - Làm ra ngu xuẩn nhưng rất tinh tường. Những câu trên đây chính là căn bản lý luận của kế "Ban chư ngật hổ" vậy. 21. Quá kiều trừu bản (Qua cầu rồi phá cầu) "Quá kiều trừu bản" là qua cầu rồi thì phá cầu, ý nói một người sau khi đã thành công, muốn hưởng thụ một mình nên giết hại hoặc xa lánh những người bạn đã đồng lao cộng khổ với mình. Kế "Quá kiều trừu bản" thường trái ngược với kế "Ban chư ngật hổ". Qua cầu cất nhịp là lúc đắc thời đắc thế đem thuộc hạ ra mà khai đạo. Còn giả tiếng heo là kế áp dụng giữa lúc ở vào thế kẹt. Đứng trên lập trường đạo lý thì cất nhịp cầu là một hành động vong ân bội nghĩa. Lưu Bang nổi danh là người qua cầu cất nhịp lớn nhất trong lịch sử. Lúc Lưu Bang hàn vi còn đi ăn cắp gà, thôi thì Bang nói đủ các điều ngon ngọt dễ nghe để tựu chúng lập đảng. Đến khi nên cơ nghiệp rồi, lo việc củng cố quyền thế, Lưu Bang chẳng ngại gì hết, đổi lại thái độ, nghi ghét triều thần. Người thứ nhất mà Lưu Bang lôi chém là Hàn Tín, rồi đến Bành Việt, Anh Bố, bỏ tù Tiêu Hà, Trần Hi, Phàn Khoái. Trương Lương thấy họa chẳng chóng thì chày cũng đến với mình, nên bỏ trốn lên rừng học đạo tu tiên. 22. Liên hoàn kế (Kế móc nối nhau) "Liên hoàn kế" là nối liền với nhau thành một dây xích. "Liên hoàn kế" còn là vận dụng một quyền thuật để tạo phản ứng dây chuyền cho đối phương hoặc gây thành phản ứng nhiều mặt. Mỹ nhân kế là vũ khí phổ biến nhất cần thiết cho việc dùng "Liên hoàn kế". Vì người đẹp ví như nước, anh hùng ví như bùn, nước làm cho bùn nhão ra. Từ ngàn xưa, đa số anh hùng đã vì thương hoa tiếc ngọc nên bỏ lãng nhiệm vụ. Tuy vậy, vẫn phải phân biệt "Mỹ nhân kế" với "Liên hoàn kế". Liên hoàn kế là một hình ảnh của thực tiễn, bất cứ việc gì xảy ra cũng gây thành phản ứng dây chuyền. Việc xảy ra hôm nay cũng không tự dưng mọc ra, nó phải là kết quả dây chuyền từ những sự việc trước. 23. Dĩ dật đãi lao (Lấy khỏe để đối phó với mệt) Kế "Dĩ dật đãi lao" là lấy sự thanh thản để đối phó với hấp tấp, nhọc nhằn; dưỡng sức mà đợi kẻ phí sức. Kế này viết ở trong thiên "Quân Tranh" của bộ "Tôn Tử Binh Pháp": "Lấy gần đợi xa, lấy nhàn đợi mệt" nghĩa là trên chiến thuật phải tìm nắm trước địa vị chủ động để ứng phó với mọi tấn công của địch. Cũng có ý nói nên chuẩn bị chu đáo, dễ dàng lấy cái thế bình tĩnh xem xét tình hình biến hóa mà quyết định chiến lược, chiến thuật. Đợi địch mỏi mệt, tỏa chiết bớt nhuệ khí rồi mới thừa cơ xuất kích. Tôn Tử gọi thế là: "Ẩn sâu dưới chín từng đất, hành động trên chín từng trời". Sử dụng sách lược này đòi hỏi thái độ tuyệt đối trầm tĩnh ứng biến, đo được ý kẻ thù, hoàn cảnh kẻ thù, thực lực kẻ thù. Nếu thời cơ chưa chín thì đứng yên như trái núi. Khi cơ hội vừa tới thì lập tức lấp sông, chuyển bể. Tư Mã Ý ngăn Gia Cát Lượng ở Kỳ Sơn. Chu Du phóng hỏa tại Xích Bích. Tào Tháo đại phá Viên Thiệu nơi Quan Độ. Tạ Huyền đuổi Bồ Kiên ở Phi Thủy. Tất cả đều lấy ít đánh nhiều, thế kém vượt thế khỏe. Tất cả đều là kết quả sử dụng tài tình sách lược "Dĩ dật đãi lao". 24. Chỉ tang mạ hòe (Chỉ vào gốc dâu mà mắng cây hòe) "Chỉ tang mạ hòe" là chỉ vào gốc dâu mà mắng cây hòe. Ý nói vì không tiện mắng thẳng mặt nên mượn một sự kiện khác để tỏ thái độ. 25. Lạc tỉnh hạ thạch (Ném đá vào người dưới giếng) "Lạc tỉnh hạ thạch" là ném đá vào đầu kẻ đã rơi xuống giếng. Rơi xuống giếng lại còn ném đá vào đầu nạn nhân. Nếu đứng trên quan điểm đạo đức Khổng - Mạnh thì phải là hành động không chính nhân quân tử, nhưng nếu coi là một mưu kế thì hành động này lại là một hành động sáng suốt. Căn bản triết lý của "Lạc tỉnh hạ thạch" là chi phối được thì mới chiếm đoạt được, và nhân từ với kẻ thù tức là tàn nhẫn với chính ta. Lưu Bị lúc nào hé miệng cũng nói những điều nhân từ, lúc nào cũng chảy nước mắt, nhưng ông lại là người cũng giỏi thủ đoạn "Lạc tỉnh hạ thạch" nhất. Chẳng vậy mà khi Lã Bố vốn là người làm nhiều ân huệ đối với Lưu Bị, nào việc bắn kích ở Viên Môn, nào việc cho Lưu Bị nương tựa ở căn cứ mình... Đến lúc Lã Bố bị bắt sau khi thất trận Từ Châu, Tào Tháo trong lòng còn đôi chút thương mến muốn dụ dỗ Lã Bố, Lưu Bị ngại Tào Tháo có thêm một mãnh tướng nữa nên đã ghé tai Tào Tháo mà nhắc khéo: “Ông không nhớ chuyện Đinh Nguyên và Đổng Trác hay sao?” (Đinh Nguyên và Đổng Trác đều nhận Lã Bố làm con nuôi, nhưng đều bị chết vì tay Lã Bố. Lưu Bị đã không kể đến ơn nghĩa, lại còn đưa đòn độc "Lạc tỉnh hạ thạch" hạ Lã Bố. Như vậy, Lã Bố làm sao khỏi chết! 26. Hư trương thanh thế (Thổi phồng thanh thế) "Hư trương thanh thế" là thổi phồng thanh thế để cho người ta chóa mắt, nể sợ. Đời Tam Quốc, Tào Tháo tiến xuống Giang Định, rầm rộ cả trăm vạn hùng quân. Tháo định dùng ưu thế tuyệt đối để buộc Tôn Quyền phải hàng phục. Nhưng Khổng Minh trông thấy âm mưu này nên chỉ ba vạn quân với một số mưu kế và trận gió đông đã đánh bại quân Tào. Khi sử dụng kế này, trước hết phải xem mục đích và giá trị của nó thế nào đã, rồi mới định cỡ to nhỏ. 27. Phủ để trừu tân (Bớt lửa dưới nồi) Kế "Phủ để trừu tân" là bớt lửa dưới nồi, ý nghĩa là giải quyết trên căn bản một vấn đề, chủ ý không cho nó phát ra (bớt lửa cho nước khỏi trào). Khi có một việc đã bùng nổ ra rồi thì tìm cách làm cho nó dịu đi, không để nó tiếp tục ác liệt. Chỗ diệu dụng kế "Phủ để trừu tân" là không nghe thấy tiếng, không nhìn thấy hình, vô cùng như trời đất, khó hiểu như âm dương, khiến cho kẻ thù rơi vào kế của mình mà họ không biết. Không kể tình trường, chiến trường hay thương trường, kế "Phủ để trừu tân" lúc nào cũng là kế rất âm độc, lớn mang hiệu quả lớn, nhỏ có hiệu quả nhỏ. Ở tình trường, anh chàng kém vế thường o bế song thân hoặc anh em của đào, hơn là tấn công chính nàng! Ở chiến trường, kế "Phủ để trừu tân" lại càng dày đặc, giăng mắc như mạng nhện. 28. Sát kê hách hầu (Giết gà cho khỉ sợ) "Sát kê hách hầu" nghĩa đen là giết con gà cho con khỉ sợ. Theo truyền thuyết dân gian, con khỉ rất sợ trông thấy máu, cho nên khi người ta muốn dạy khỉ, trước hết họ giết một con gà, bắt con khỉ nhìn thấy đống máu bê bết rồi mới bắt đầu giáo hóa. Lúc bắt khỉ cũng thế, người ta vặn cổ con gà cho nó kêu lên những tiếng ghê rợn, khiến cho khỉ bủn rủn chân tay thì đến bắt. "Sát kê hách hầu" có tác dụng lớn, làm cho các vụ mới nở ra trong trứng nước bị rơi vào cảnh bối rối, sợ sệt. 29. Phản gián kế (Dùng kế của đối phương để quật lại) "Phản gián kế" là dùng người của đối phương lừa dối đối phương, dùng kế địch lừa địch. Tôn Tử nói: “Biết mình là biết thực lực và nhiệm vụ của mình. Biết người là biết thực lực và ý đồ của địch. Biết mình thì tương đối dễ hơn biết người. Cho nên muốn biết người thì phải dùng gián điệp”. 30. Lý đại đào cương (Đưa cây lý chết thay cây đào) "Lý đại đào cương" là đưa cây lý chết thay cho cây đào. Người lớn làm họa, bắt người bé chịu tội thay. Có rất nhiều kẻ tác gian phạm tội lại bắt người khác thế thân. 31. Thuận thủ khiên dương (Thuận tay dắt con dê về) "Thuận thủ khiên dương" theo nghĩa đen là thuận tay dắt con dê về. Sự việc trên đời, thiên biến vạn hóa rất kỳ diệu. Phải biết nắm lấy bất cứ cơ hội nào vụt hiện đến trước mắt, đó là những thâu hoạch, những cái lợi bất ngờ. 32. Dục cầm cố tung (Muốn bắt mà lại thả ra) "Dục cầm cố tung" theo nghĩa đen là muốn bắt cho nên thả ra. Muốn thực hành kế này, phải có một nhãn quan sâu rộng, một tấm lòng nhẫn nại vô song. Những kẻ cấp công cận lợi không bao giờ có đủ tài trí để thi hành nó. Kế "Dục cầm cố tung" không thi hành theo cái nghĩa đen của nó. Kế này nói lên sự mềm dẻo cho mọi chính sách, thứ nhất là chính sách thu phục lòng người, giữ người. 33. Khổ nhục kế (Hành hạ thân xác mình để người ta tin) "Khổ nhục kế" là hành hạ mình, rồi đem cái thân xác bị hành hạ ấy để làm bằng chứng mà tiếp cận với địch để hoàn thành một âm mưu nào đó. 34. Phao bác dẫn ngọc (Ném hòn ngói để thu về hòn ngọc) "Phao bác dẫn ngọc" nghĩa đen là ném hòn ngói để thu về hòn ngọc. Tức là dùng tiểu vật để đoạt một đại vật, như người đi câu vậy. Dân gian thường nói "thả con tép bắt con tôm" cũng là kế này. 35. Tá thi hoàn hồn (Mượn xác để hồn về) "Tá thi hoàn hồn" nghĩa là mượn xác để hồn về. Ý kế này chỉ rằng: Sau khi đã thất bại, buộc phải lợi dụng một lực lượng nào đó để khởi lên thi hành trở lại chủ trương của mình. Tuy nhiên, dùng kế này rất dễ đi vào con đường nguy hiểm, nếu sơ xuất thì tỷ như rước voi về giày mả tổ. Nếu mượn xác mà mượn ẩu thì chẳng khác gì vác xác chết về nhà. 36. Tẩu kế (Chạy, lùi, thoát thân) "Tẩu kế" nghĩa là chạy, lùi, thoát thân. Tại sao kế sau chót cổ nhân lại đặt là "kế chạy"? Lại có câu: "Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách". (Ba mươi sáu chước, chạy là hơn hết!) Bởi vậy kế này liên quan nhiều đến sự thành bại của một công việc lớn. Bất luận là đánh nhau bằng văn hay bằng võ, không ai là có thể thắng hoài. Trong quá trình chiến đấu bao gồm nhiều kiểu thắng, nhiều kiểu bại, lúc ẩn lúc hiện, trong chớp mắt dồn dập cả trăm ngàn biến chuyển. Nếu không ứng phó mau lẹ để tránh những cảnh bất lợi, để nắm mau lợi thế mà tiến tới thắng lợi, thì không phải là nhân tài. Chạy có nhiều phương thức. Bỏ giáp, bỏ vũ khí mà chạy, bỏ đường nhỏ mà chạy tới đường lớn, bỏ đường bộ mà chạy sang đường thủy... Các phương thức tuy không giống nhau nhưng cùng hướng chung đến mục đích là tránh tai họa để bảo đảm an toàn, để bảo toàn lực lượng. "Tẩu kế" không phải là chạy dài. Chạy chỉ là một giải pháp để mà sẽ quay lại. Tinh hoa của kế chạy là giành thời gian, bảo tồn sức khỏe, lực lượng. Rút chạy đến một vị trí mới, cho tư thế vững mạnh hơn, tập trung nỗ lực và củng cố tinh thần, chọn một cơ hội thuận tiện để quật lại, ấy mới thực là "Tẩu kế". Sau hết phải lo đến điểm nguy của kế chạy: Khi chạy, sẽ mất tinh thần, sự việc hoàn toàn lỏng lẻo, mất sự tin tưởng ở xung quanh. Nếu không giải quyết cho chính xác những vấn đề trên thì "tẩu" không còn là một kế hoạch nữa, mà là một sự tan rã vậy!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)