Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

Tính cách người các tỉnh tại Trung Quốc

Tính cách người các tỉnh tại Trung Quốc
Cộng tác viên gửi bài này do nhà nghiên cứu Dương Danh Dy sưu tầm và trích giới thiệu từ tư liệu Trung Quốc.





1. Người Hà Nam

Tỉnh Hà Nam là cái nôi của dân tộc Trung Hoa, trong sáu cố đô của Trung Quốc có ba cái ở Hà Nam. Thế nhưng thanh danh hiện nay rất xấu, các công ty lớn tại Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng châu, Thâm Quyến đều không muốn thuê dùng người Hà Nam. Đã có câu nói: “phòng lửa, phòng trộm,(đề) phòng người Hà Nam”, thậm chí tại Thâm Quyến đã từng có biểu ngữ “nghiêm khắc đả kích bọn tội phạm Hà Nam”

Có thể là do đất hẹp ngưòi đông (sắp đạt 100 triệu dân), nên cạnh tranh dữ dội, rất nhiều ngưòi dường như xảo quyệt là thiên tính. Độ tín nhiệm của các công ty Hà Nam rất xấu, hễ lừa được là lừa, hễ hãm hại được là hãm hại, buôn bán làm ăn với họ là rất mạo hiểm. Trịnh Châu, Tân Hưong, An Dương tập trung rất nhiều công ty lừa gạt, dùng các phương thức như uỷ thác gia công, liên minh, để lừa gạt, chính quyền địa phưong về căn bản không quản lý. Người Hà Nam phổ biến có địa vị không cao tại các thành phố lớn nhưng tiếng tăm lại rất nổi; “ thu nhặt đồ phế phẩm rất nhiều ”(và thường thuận tay giắt bò). Số gái điếm cũng không ít, thưòng lang thang tại thành phố.Tỷ lệ người Hà Nam phạm tội ở Bắc Kinh chỉ dưói ngưòi Đông Bắc, nên ở đâu cũng bị chèn ép, thậm chí nhiều người Hà Nam phải nói dối là người Hà Bắc, người Sơn Đông.

Thực ra ngưòi Hà Nam rất chăm chỉ, chịu khổ được, tập quán sinh họat vốn thật thà chất phác, nhất là ngưòi nông thôn. Tuy vậy có nhược điểm là bảo thủ, thành kiến, không nghĩ đến tiến thủ. Là tỉnh có sức lao động lớn nhất Trung Quốc.

Người Hà Nam ở nhà rất coi trọng lễ nghĩa, các chuyện ma chay cưới xin, sinh đẻ, lễ tết …đều rất coi trọng lễ nghĩa. Tuy nhiên ngưòi Hà Nam nổi tiếng vì không thích tắm rửa.

Nói chung tiếng xấu với ngưòi Hà Nam đã thâm căn cố đế. Nhiều người thường trách mắng người Hà Nam, nhưng lại quên mất rằng tổ tiên ngưòi Khách Gia thậm chí người Thượng Hải đều là ngưòi Hà Nam.

2. Ngưòi Hồ Bắc

Là láng giềng của tỉnh Hà Nam, trình độ xảo quyệt không thua ngưòi Hà Nam, hàng giả tại một đưòng phố tại Hồ Bắc đã từng nổi tiếng tại Trung Quốc. Tuy vậy thanh danh ngưòi Hồ Bắc không xấu như vậy, đây được coi là tỉnh có nhiều hồ nước, nước nhiều tự nhiên tính tình linh hoạt, và có nhiều mỹ nữ. Ngưòi Hồ Bắc rất thông minh, số ngưòi đạt kết quả cao trong các kỳ thi vào đại học rất cao. Ngưòi Hồ Bắc học giỏi, trường trung học phổ thông Hoàng Cưong nổi tiếng cả nước, thậm chí nhiều trường học trọng điểm của Bắc Kinh, Thưọng Hải cũng không bằng Thiên Môn nổi tiếng là quê hương của Hoa Kiều trong nội địa. Hồ Bắc có những nơi rất giàu, có thể so sánh với vùng ven biển. tuy vậy ở mấy nơi tiếp giáp với Đại Biệt Sơn tỉnh An Huy, Hà Nam lại là vùng nghèo nhất nước.

Huyện Hồng An của Hồ Bắc đựoc gọi là “huyện của các vị tướng”(có tới 223 vị tướng) đó là vì thời thế tạo anh hùng, những năm tháng đó nơi nào càng nghèo, tinh thần tham gia cách mạng càng cao.

Người Hồ Bắc hướng nội, biết giấu mình chờ thời, nhưng dũng khí (trong khi tìm hiểu đối tưọng) không bằng ngưòi Hồ Nam.

Hồ Bắc cũng là tỉnh có nhiều nông dân vào thành phố làm thuê.

3. Người Hồ Nam

Ngưòi Hồ Nam được gọi là “ngưòi phương bắc của phưong nam” tính cách bộc trực, khí khái dữ dội như ớt cay, cổ họng cũng tưong đối lớn. Sử sách cố có nhiều từ ca ngợi ngưòi Hồ Nam nhất( ví dụ: “Sở chỉ còn 3 hộ vẫn có thể diệt Tần”, “không có Hồ Nam không thành quân đội”, “người Hồ Nam chưa đổ, Hoa Hạ chưa đổ”. Quân Hồ Nam của Tăng Quốc Phiên, Tả Tông Đưòng đã kéo dài thêm hương hoả nhà Thanh gần nửa thế kỷ, nhiều nguyên lão khai quốc của đảng cộng sản là ngưòi Hồ Nam. Có thể nói bộ cận đại sử Trung Quốc và nửa bộ hiện đại sử Trung Quốc là do ngưòi Hồ Nam dùng máu tươi và sinh mệnh của mình viết nên.

Người Hồ Nam thông minh, dũng cảm, mạnh mẽ quả quyết, dám đảm nhiệm việc lớn coi thiên hạ hưng vong là trách nhiệm của mình, “nước Trung Hoa chỉ diệt vong khi ngưòi Hồ Nam chết hết” ngưòi Hồ Nam tập trung đựoc mỹ đức ưu tú của dân tộc Trung Hoa. Học tập, đi lính đánh nhau, lao động đều tốt. Thế nhưng gần đây phong khí xã hội đã có xu thế giảm sút. Trường Sa là thành phố tiêu dùng điển hình, các nhà tắm đầy thành phố (đều kèm theo gái) nhung giá rất đắt, dân địa phưong không có tiền vào tắm và thưòng do ngưòi Quảng Đông tới làm mưa làm gió.

Song Phong là”quê hưong làm các loại giấy chứng nhận giả” của Trung Quốc. Huyện Sâm Châu toàn là tham quan. Ngưòi Hồ Nam có 3 loại khí: linh khí, phỉ khí và bá khí, một khi trở thành nhóm bạo lực thì nguy hại cực lớn. “Đảng ô tô” mà Quảng Đông đang đả kích mạnh chủ yếu là ngưòi Hồ Nam, “Nhóm Hồ Nam” vượt trội hơn “Nhóm Đông Bắc” và “Nhóm Quảng Tây”

Hồ Nam có nhiều gái đẹp, đảm đang thông tuệ, làm việc tháo vát, nhưng làm vợ thì không đáng tin lắm, đã có câu nói”Tương nữ đa tình”( gái Hồ Nam đa tình) số ngưòi làm việc trong ngành dịch vụ bằng vai phải lứa với các chị em Tứ Xuyên, Đông Bắc. Ở đây có câu “chỉ cưòi nghèo chứ không cưòi xướng ca”. Là tỉnh lớn xuất khẩu “ các vợ hai”.

4. Người Quảng Đông

Ngưòi Quảng Đông là nhóm ngưòi phức tạp nhất Trung Quốc, thân thể nói chung nhỏ, lùn, trán rô, mắt nhỏ mà sâu, mũi hơi rộng, môi dày. Có 3 ngôn ngữ chính: tiếng phổ thông, tiếng Triều Châu, tiếng Khách Gia. Trong lịch sử Quảng Đông là một vùng pha tạp của Bách Việt, vùng ven biển còn có ngưòi Đông Nam Á đến ở, gọi là ngưòi Quảng Phủ, gồn cả ngưòi Hồng Công, Ma Cao; ngưòi vùng Triều, Sán cũng có ngôn ngữ và phong tục độc đáo. Hai loại ngưòi này thuộc ngưòi ở đất Quảng Đông. Xem xét từ mặt sinh vật thấy nguồn gốc dân tộc không giống ngưòi phưong bắc.
Sau “ngũ Hồ loạn Hoa” ngưòi Hán vùng trung nguyên(chủ yếu là ở Hà Nam) di cư một lưọng lớn về phía nam, tập trung sinh sống tại vùng Mai Châu, Hà Nguyên, và một phần vùng Kiết Dưong, Sán Vỹ, nói tiếng Khách Gia. Bộ phận ngưòi Hán này phải được coi là ngưòi Hán “thuần chủng” về huyết thống nhất(ngưòi phưong bắc luôn luôn ở vào vị thế dân tộc hoà nhập). có khoảng hơn 10 triệu nguời. Tôn Trung Sơn, Lý Gia Thành cũng đều là ngưòi Khách Gia. Quảng Đông là tỉnh có ngưòi Hoa ra nuớc ngoài sớm nhất để kiếm sống, có hơn 20 triệu Hoa Kiều, ngưòi Triều Sán và Ôn Châu nổi tiếng ở nuớc ngoài vì kinh doanh, buôn bán.

Do ngưòi Qưuảng Đông bị ma quỉ hoá tuyên truyền nên tại Mỹ và Canada có có phong trào “bài Hoa” kéo dài nửa thế kỷ. Quảng Đông là nơi bắt nguồn cách mạng dân chủ cận đại, là giao điểm của văn minh đông, tây là lô cốt đầu cầu và ngưòi lính đứng đầu của cải cách mở cửa. Ngưòi Quảng Đông là nhóm người hải dương, tràn đấy khí huyết và sức sống, đầu óc linh hoạt, giầu tính mạo hiểm, tính sáng tạo, dám đi trước thiên hạ. Ngưòi Quảng Đông không thích thú lý luận rỗng tuếch, và cũng chẳng để ý bàn bạc triết lý, con ngưòi, và cũng không hứng thú với chính trị.. Người người đều vào ra bận rộn vì tiền, suốt ngày hết đông lại tây. Ngưòi phương bắc suy nghĩ trước, hành động sau, còn người Quảng Đông lại hành động truớc rồi mới suy nghĩ sau, coi trọng hiệu quả và giá trị, không coi trọng hình thức và thể hiện bề ngoài. Hiện nay Quảng Đông đã trở thành vùng kinh tế phát triển nhất Trung Quốc,. Phụ nữ Quảng Đông rất hiền hậu, giỏi việc bếp núc. Thế nhưng hình tưọng nhân văn của Quảng Đông lại là hộ phất điển hình. Mấy đánh giá thưòng thấy là:

-Lạnh nhạt, bài ngoại, tự đại. Quảng Châu là thế giói phồn hoa, là thành phố lãnh đạm nhất thế giới, nếu như chỉ hỏi đường với một ngưòi Quảng Đông mà lại nói tiếng tỉnh ngoài thì rất ít khi được trả lời. Láng giềng với nhau mà cũng cửa đóng then cài, chẳng ai để ý tới ai, thêm một việc chẳng bằng bớt đi một việc. Ở Quảng Châu muốn tìm một ngưòi sẵn sàng làm việc nghĩa còn khó hơn lên trời. Ngưòi Quảng Đông bài ngoại từ lâu, đã từng gọi những ngưòi ngoài Quảng Đông là “thằng vơ vét” gọi phụ nữ là “em gái xứ bắc”, gọi ngưòi phưong tây là “quỉ”.. thậm chí ngay ngưòi Triều Sán ngay trong tỉnh cũng bị gọi là “thằng lạnh nhạt”. Nhiều ngưòi Quảng đông tri thức địa lý nghèo nàn, thưòng tự cho mình là trung tâm, ngoài Quảng Đông ra đều là phưong bắc cả.

-Ngưòi Quảng Đông không có văn hoá. Có văn hoá trà, văn hoá rượu, văn hoá ăn thịt rắn, văn hoá uống canh, nhưng không tiếp nhận quốc tuý, chỉ sung bái văn hoá Hồng Công, Đài Loan. Ngưòi Quảng Đông về cơ bản không xem TV trung ương, giữa kinh tế và văn hoá không bao giờ có sự cùng tiến, hầu như là sa mạc văn hoá. 500 doanh nghiệp lớn nhất nước, 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới chẳng có mấy đơn vị chịu đặt tổng bộ tại Quảng Đông

-Người Quảng Đông không có tố chất. Mặc dù chưa ăn xong là họ đã sách túi chạy đi, rất vụ thực. Chẳng mềm tay trước mọi thứ của ngưòi khác. Tiêu thụ đũa ăn, hộp cơm dùng một lần nhất toàn quốc. Bất kể là nam hay nữ, ban ngày đều mặc quần áo ngủ đi dạo phố, vào siêu thị như chỗ không ngưòi.

-Ngưòi Quảng Đông không quan tâm việc lớn quốc gia, không quan tâm tới sự phát triển của thế giới. Vinh nhục của đất nước chẳng hề bận lòng chỉ theo lối sống nhỏ bé của mình, chỉ quan tâm tới giá nhà ở và cổ phiếu của mình.

-Nghiện đánh bạc thành tính, nổi tiếng thế giới.Loại sổ xố nào cũng chơi, hễ phát hành là bán hết.

-Ngưòi Quảng Đông rát mê tín, thích đi lễ tại đền chùa, mỗi năm mấy lần. Bàn thớ trong nhà ngày lễ ngày tết không bao giờ để tắt khói hưong. Bản số ô tô, số nhà, số điện thoại, ngày kết hôn, ngày mở cửa hàng đều chọn số 6 và số 8. Còn đến mức mổ bụng mẹ để sinh con đứng ngày đã chọn. Ngày quốc sỉ 19/8 hàng năm(ngày Nhật xâm lược 3 tỉnh đông bắc) lại là ngày lành tháng tốt của ngườì Quảng Đông.( vì đối với họ số 9 và số 8 đều là số đẹp) Có ngưòi xây mộ cha ông còn hào hoa hơn nhà ở của mình( không hoàn toàn là vì hiếu kính)

-Đàn ông Quảng Đông rất vô sỉ, đàn bà thì chẳng ra làm sao. Đi trên phố thi thoảng gặp mỹ nữ thì đều là ngưòi Tứ Xuyên, Hồ Nam. Học sinh yêu sớm nổi tiếng cả nước, tiểu học đã bắt đầu biết tay nắm tay nhau, lên trung học là dám mạnh dạn hôn nhau. Liệu có ngưòi đàn ông Quảng Đông nào không chơi gái không? Liệu có anh Quảng Đông sẵn tiền nào không bao “vợ hai” không? Phụ nữ Quảng Đông nếu không có đàn ông là không tự tin vào cuộc sống, không biết dựa vào luật pháp để bảo vệ mình.

-Ngườì Quảng Đông cái gì cũng dám ăn. Rắn, chuột, chó, mèo, ấu trùng, xuyên sơn giáp… cho đến cả thai nhi cũng như tất cả các loại động vật dã sinh được bảo hộ đều ăn tuốt. Năm 1949 giải phóng quân Trung Quốc đánh xuống miền nam, tham dự chiến dịch Lưỡng Quảng đều là ngưòi Đông Bắc khi nghe kể về những thói ăn kỳ lại ở đây, có nhiều binh lính đã không muốn ra trận nữa.

-Ngưòi Quảng Đông rất kiêu ngạo trong buôn bán. Làm ăn, qua lại với ngưòi Quảng Đông sẽ thấy họ, một là tinh nhưng không tín, hai là ngạo mạn.Thưòng nhìn ngưòi khác bằng con mắt: ngưòi có ta cũng có, ngưòi không có ta có, muốn là làm không muốn là bỏ đi. Nhưng khi cần anh thì lại giả tạo đến mức chịu không nổi.

-Sách giả, thuốc lá giả, đĩa giả, tiền giả.. .do ngưòi Quảng Đông chế tạo lan tràn khắp nước. Cho thêm nước vào bình gaz, cho thêm thuốc nhuộm mầu độc hại vào thực phẩm, biến cồn công nghiệp thành rượu nổi tiếng, lại còn thuốc giả, máy móc nhái thương hiệu nuớc ngoài. Quảng Châu, Đông Quán, Thâm Quyến là những thành phố không có cảm giác an toàn nhất, Thành phố Đông Quán vừa bẩn vừa loạn, cũng có sông đào nhưng mùi thối thấu trời. Đáng sợ nhất là ban ngày mà trộm cướp vần hoành hành. Quảng Đông là tỉnh lớn nhát về “vợ hai”, tại Thâm Quyến, Đông Quán có rất nhiều “thôn vợ hai” rất tráng lệ

5. Người Quảng Tây

Ở Quảng Tây chủ yếu có hai loại tiếng địa phưong là tiếng Quế, Liễu(tiếng Quế Lâm và Liễu Châu rất gần tiếng Hồ Nam) và tiếng Nam Ninh(loại biến chủng của tiếng phổ thông Quảng Đông, rất khó nghe). Khí hậu Quảng Tây viêm nhiệt. Ngưòi Quảng Tây bị coi là có tính cách nhu nhược nhấtửTung Quốc, thưòng đựoc coi là đại biểu cho sự mềm yếu có thể coi thưòng, từ thời xưa đã thiếu vắng dũng sĩ cũng như những bậc kiêu hùng, nếu tính cách người Trung Quốc đều như ngưòi Quảng Tây, thì đất lớn Trung Hoa đã bị các cưòng quốc chia cắt hết từ chiến trnh thuốc phiện. Người Quảng Tây phổ biến gầy ốm, nước da xấu , tỷ lệ nam thanh nữ tú thấp nhất trong cả nước.

Ô tô công cộng, thậm chí cả xe ngựa ở Nam Ninh cũng rất lùn nhỏ. Đường phố Nam Ninh nhỏ hẹp, siêu thị thô sơ(siêu thị lớn là từ ngoại tỉnh đến), xe máy đứng đầu cả nuớc, chôc này cũng thấy cửa hàng bán cây thuốc Ngưòi Nam Ninh ăn không khỏe và rát tiết kiệm

Quan chức hủ bại, bất học vô thuật(bỏ tiền mua quan). Kinh tế tuy lạc hậu, nhưng quan niệm về tính rất cởi mở, đã có câu “đại học Quảng Tây không còn gái trinh”. Có 1000 NDT(khoảng 3 triệu VNĐ) là có thể bao được nữ sinh viên Học viện Nghệ thuật Quảng Tây . Quảng Tây có rất nhiều nơi du ngoạn đẹp, nhưng không biết kinh doanh. Ngành nhà đất, may mặc bị ngưòi Ôn Châu(tỉnh Phúc Kiến) nắm hết. Lưỡng Quảng(Quảng Đông, Quảng Tây) mặc dù cùng nguồn cội, nhưng lại “tính tương cận, tập tương viễn”. Tính cách chung của cả hai tỉnh này là cái gì cũng dám ăn.

Đàn ông Quảng Tây tiểu khí, tự tư, nhát gan, nhưng một khi đến Quảng Đông thì đã có biến đổi lớn về tính cách. “Đảng ô tô” chủ yếu là ngưòi Quảng Tây. Người nông thôn Quảng Tây tương đối thiện lưong(kể cả ngưòi Choang ở vùng xa xôi hẻo lánh mà về cơ bản đã bị tộc Hán đồng hoá) thành thực, trung hậu, không có tính công kích, chỉ cần ngưòi ta thương hại là được. Nghiện đánh bạc, chơi các loại sổ xố khiến nhiều ngưòi tan cửa nát nhà, rất nhiều ngưòi chưa từng ngồi xe lửa.

6. Người Hải Nam

Là nơi tổ tiên ngưòi Lê dời đến sớm nhất, là một quận thời Tây Hán, đến Ngũ đại là nơi di dân trung nguyên đến nhiều nhất, trong đó thời Tống,Minh Thanh qui mô di dân lớn nhất mà chủ yếu là từ Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây. Tỉnh Hải Nam là tỉnh thành lập sau cùng của Trung Quốc, trứoc đó là vùng xa và lạc hậu của tỉnh Quảng Đông, tiéng nói chủ yếu là tiếng phỏ thông Quảng Đông mang đặc sắc Hải Nam

Dân Hải Nam gốc rất bảo thủ, tầm nhìn hẹp, tự cho mình là giỏi, nhưng ngay khi nói cũng để lộ sự yếu đuối. Nước da đen là một đặc trưng điển hình, thân ngưòi lùn nhỏ, rất ít trai tài gái sắc.

Ngưòi Hải Nam chịu được nghèo nhưng không chịu được khổ. Do có nhiều di dân, thưong nhân Hả Nam đã lộ rõ đặc sắc ưa thích đầu cơ, nhưng tư duy với tầm nhìn ngắn hẹp.

Hải Nam cũng là quê hưong Hoa Kiều, nhưng nhiều ngưòi trongbọn họ vẫn thuộc loại nghèo không thành đạt như ngưòi Triều Sán và ngưòi Khách Gia ở nước ngoài. Đây là nơi buôn lậu khá phổ biến. Kinh tế Hải Nam còn rất yếu. Có câu: đến Bắc kinh mới thấy quan mình nhỏ, đến Đông bắc mới thấy gan mình bé, đến Quảng Đông mới thấy tiền mình ít, đến Hải Nam mới thấy sức khoẻ mình rất không tốt!

7. Ngưòi Hồng Công

Ngưòi Hồng Công sớm nhất là di dân Quảng Đông, bị nuớc Anh thống trị lâu dải.Trên ngưòi Hồng Công có cả đặc trưng tính cách phưong đông và phương tây, hàm súc của phương đông, thẳng thắn của phương tây, nhiệt tình của phương đông, lãnh đạm của phưong tây, tình cảm của phương đông, khách quan của phương tây. Trừ một số cá biệt ra đa số người Hồng Công không tự đánh giá thấp nguồn gốc, dòng máu của mình và không tự phủ định. Cái phủ định là đại lục “không dân chủ”, “hủ bại” tâm trạng phổ biến là “yêu nước, yêu Hồng Công, nhưng chưa chắc đã yêu đảng”

Từ năm 1997 đến nay, tính đồng thuận của ngườì Hồng Công với tổ quốc đã không còn vấn đề gì, thậm chí những phần tử yêu nước ở đây, còn kích tiến hơn cả đại lục( việc bảo vệ đảo Điếu Ngư-Senkaku là một ví dụ, phi công vũ trụ Dưong Lợi Vỹ được hoan nghênh nhiệt liệt ở Hồng Công) khiến đại lục toát mồ hôi. Hồng Công đất hẹp ngưòi đông do đó cạnh tranh rất ác liệt, tạo nên tính cách sáng suốt, dám làm, kiên nhẫn, thực tế, khẩn trương, tất bật. Ngưòi Hồng Công mặc dù đã gần bị tây hoá nhưng bất kể là trong việc cầu mong bình an, sự nghiệp thành đạt, chuyện hôn nhân, bệnh tật… đều đến chùa đền khấn vái cầu xin, có phần thành kính hơn ngưòi nội địa. Ngưòi Hồng Công cũng như ngưòi Đài Loan phần lớn bao “vợ hai” tại đại lục, ngay phu vận tải cũng bao “em gái Tứ Xuyên” tại Thâm Quyến

8. Ngưòi Macao

Bị Bồ Đào Nha thống trị hơn 400 năm nhưng quan niệm văn hoá truyền thống vẫn không thay đổi, Ma Cao và HồngCông chỉ cách nhau một cửa sông Châu Giang, nhưng Hồng Công thì chen chúc náo nhiệt khiến lòng ngưòi chẳng mấy khi yên,còn Ma Cao tuy chen chúc mà không náo nhiệt, căng thẳng mà vẫn yên tĩnh khiến người ta thoải mái thư nhàn, chỗ nào cũng thấy tình ngưòi ấm áp rất ít khi nghe thấy tiếng tranh cãi, càng chẳng thấy những hành động thô bạo. Có thể là nơi này đất hẹp ngưòi ít, ngưòi đi đưòng gặp nhau đều có cảm giác như là đã biết nhau rồi. Đàn ông Ma Cao “nhỏ ngưòi nhưng bụng dạ rộng lớn” ngụ ý tuy không cao lớn như đàn ông Đông Bắc nhưng rất độ lượng, không tính việc nhỏ, tinh thẩn trách nhiệm cao; phụ nữ Ma Cao hết lòng với việc nhà, hiến dâng vô tư cuộc sống của mình cho cha mẹ, chồng, con. Kinh tế Ma Cao đơn nhất, ngoài đánh bạc và du lịch ra chẳng có vị trí gì trên quốc tế. Việc Ma Cao về với tổ quốc có ý nghĩa tượng trưng chủ quyến lớn hơn ý nghĩa kinh tế. Do không giầu có như Hông Công nên rất nhiều ngưòi Ma Cao thích đến mua sắm tại Chu Hải(Quảng Đông)

9. Ngưòi Bắc Kinh

Là vùng thấy nhiều biết rộng, vừa tiêm nhiễm văn hoá vua quan vừa chịu tàn dư của phong tục con em nhà Mãn, vô cùng lưòi biếng, rất nhiều ngưòi thà ở nhà hưỏng bảo hiểm thấp chứ không chịu đi làm, khá nhiều ngưòi dựa vào tiền bồi thường nhà cửa cổ xưa do cha ông để lại khi phải di chuyển hoặc giá nhà đất gia tăng để sinh sống; có ngưòi là quan thưong dựa vào chính sách mà sống cuộc sống nhàn rỗi, ngưòi béo rất nhiều. Những tiếng tục của Bắc Kinh về cơ bản đều là của ngưòi tỉnh ngoại. Trong các thế hệ sau của Bắc Kinh con nhà giầu sang rất nhiều, chỉ chú ý hưởng thụ.

Phụ nữ rất cởi mở và rất có cá tính. Ngưòi Bắc Kinh muốn học đại học là học được, ngay cả với những truờng nổi tiếng như Thanh Hoa, Bắc Đại, sau khi tốt nghiệp nói chung được các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp ưu tiên tuyển dụng. Chỗ nào ở Bắc kinh cũng có quan, ngay ông lão đạp xe ba gác cũng ra vẻ ta đây vì nhà nào chả có dây mơ rễ má với mấy vị quan. Chính vì thế mới có câu nói ở trên “không đến Bắc Kinh không biết mình chỉ là quan nhỏ”

Hộ khẩu ở Bắc Kinh quí báu lắm, ngưòi Bắc Kinh cũng bài ngoại, nói chung cảm thấy mình là “ngưòi của trung ương”(rất nhiều ngưòi ngoại tỉnh ở Bắc Kinh sau khi trở thành ngưòi Bắc Kinh thì thế hệ sau của họ cũng bài ngoại). Cảnh sát nói chung đặc biệt “chiếu cố” mấy ngưòi ngoại tỉnh. Tuy vậy tính bao dung rất khá(tất nhiên không thể so sánh với Thâm Quyến)

Mở công ty nên hết sức tránh nhận ngưòi Bắc Kinh. Ngưòi Bắc Kinh cái gì cũng minh bạch, nhưng chỉ biết nói mà không thể làm, nghiệp vụ còn giỏi hơn ông chủ(ngưòi Bắc Kinh thích hợp làm nhân viên tài vụ , nhân phẩm đáng tin, lại trốn không nổi). Ngưòi Bắc Kinh mồm lưõi dẻo quẹo.

Tuy vậy nhìn chung ngưòi Bắc Kinh rất lương thiện, có chí khí lớn, có sự đồng cảm, coi trọng nghĩa khí, thích chuyện không đâu, nhất là những việc lớn quốc gia, thích tán chính trị(không ít tin vỉa hè từ đó), được coi là ngưòi có tố chất cao tại Trung Quốc, Ngưòi phát tài ở Bắc Kinh chủ yếu là người ngoại tỉnh, làm quan ở Bắc Kinh cũng chủ yếu là di dân tỉnh ngoài. Ngưòi Bắc Kinh lưòi biếng khó thành việc lớn.

Cùng với việc chính sách được nới rộng, chế độ hộ khẩu ngày càng bớt chặt chẽ, ngưòi tính ngoài đến Bắc kinh cướp cơm ăn tạo nên cảnh ngưòi Bắc Kinh thất nghiệp càng đông, cảm giác mất mát rất lớn. Văn hoá Bắc kinh là sự hoà nhập của nhiều loại, văn hoá thể chế quan phưong, văn hoá của phần tử trí thức và văn hoá dân gian đều ở trạng thái cộng sinh, văn hoá hiện đại chung sống hoà bình với văn hoá truyền thống, cái nào cũng có phong cách riêng, cũng có nét tự hào riêng.

10. Người Thiên Tân

Thật khó tưỏng tượng nổi, ở ngay cạnh Bắc Kinh mà tiếng nói lại vô cùng độc đáo(nghe nói bị ảnh hưỏng của quân đội Hoài của Lý Hồng Chưong), thu nhập về tiền lưong không hơn những ngưòi tương đưong nhưng nằm trong diện rời khỏi công tác, cắt giảm biên chế ở Thẩm Dưong. Đó là một thành phố trực thuộc trung uơng dễ bị ngưòi ta quên.

Tính cách đàn ông Thiên Tân sảng khoái nhưng có suy nghĩ yên tâm với hiện tại không tiến thủ. Là ngưòi nghĩa khí, làm việc quả đoán, rất dễ kết bạn, tính cách phụ nữ đã nam tính hoá, làm vợ không bằng làm bạn, chứi ngưòi không tiếc lời, không hiền lành chút nào!

Ngưòi Thiên Tân bản tính khôi hài.

Thực ra Thiên Tân không phát triển lắm, Bắc Kinh đã hút cạn các vùng xung quanh, Bắc Kinh không hề bị cắt điện, nếu có cắt thì cắt Thiên Tân, Hà Bắc.. Ngưòi Thiên Tân xưa nay không phục ngưòi Bắc Kinh, bóng đá mà gặp nhau là tử chiến! Kiến trúc ở Thiên Tân còn đậm màu sắc văn hoá truyền thống, nghệ nhân dân gian nhiều. Thiên Tân không thích hợp với định cư, dù cát bụi không bằng Bắc Kinh

11. Người Hà Bắc

Từ xưa Yên Triệu đã nhiều tráng sĩ khảng khái bi tráng. Ngưòi Hà Bắc trung hậu vụ thực, cam chịu làm chiếc lá xanh để làm đẹp Bắc Kinh. Vì Bắc Kinh mà chịu cắt điện, chịu ô nhiễm, chịu gió cát. Nội thành phồn hoa không kém ai, nhưng cứ ra khỏi tyhnhf phố là thấy những ngôi nhà nông thôn Hà Bắc nghèo nàn. Người Hà Bắc quen nhìn mắt ngưòi Bắc Kinh để làm theo, nhưng học nói tiếng Bắc Kinh thế nào cũng chẳng giống.

Thượng Hải lôi kéo vùng đồng bằng sông Trưòng Giang phát triển, nhưng Bắc Kinh lại hút hết màu mỡ bình nguyên Hoa Bắc! Hà Bắc là vườn rau lớn của Bắc Kinh. Nhiều nguời Hà Bắc làm gác cổng nhà, bầy của hàng bán rau tại Bắc Kinh, thưòng bị những ngưòi quản lý thành thị ở đó khinh thường( một nông dân Hà Bắc do phẫn nộ mà giết một nhân viên quản lý thành phố Bắc Kinh, toà án sợ mâu thuẫn xã hội gay gắt thêm nên chỉ dám xử tử hình hoãn thi hành)Tiếng nói các vùng tại Hà Bắc khác nhau rất lớn. Tiếng Ký Châu Hà Bắc còn khó nghe hiểu hơn tiếng Quảng Đông, còn tiếng Đường Sơn, tiếng Trưong Bắc đều có đặc sắc riêng, tiếng Tần Hoàng đảo, Thừa Đức… lại gần với tiếng vùng Đông bắc.

Phụ nữ Hà Bắc thật thà chất phác lưong thiện, làm vợ rát thích hợp. Rất nhiều nông dân tỉnh ngoài vào Bắc Kinh làm thuê khâm mộ người Hà Bắc: vì lộ phí về nhà vợ chỉ tốn 30 NDT(khoảng chưa tới 1 triệu VNĐ)

12 . Ngưòi Sơn Tây

Nền tảng văn hoá sâu dầy, nhưng cặn bã chiếm đa số. “Mặt vuông, đường nét rõ ràng, mũi ngắn mà to” là hình tượng điển hình của ngưòi Sơn Tây. Ngưòi Sơn Tây thực thà, yên phận, trung thành đáng tin, thích đi bộ tới nơi làm việc. Nhưng đầu óc chưa đủ linh hoạt, đần độn cố chấp, cẩn thận nhưng sợ việc, không có phong cách kinh doanh. Nơi này ngưòi đông đất hẹp, đất đai cằn cỗi, công nghiệp lạc hậu, quan niệm lạc hậu, may mà có nhiều mỏ than. Mặc dù Sơn Tây nghèo nhưng ngưòi giầu không ít, phần lớn là đổi lấy từ xương trắng của công nhân các hầm mỏ trong tỉnh.

Đã từng có nhóm giầu có đến Bắc Kinh, tập thể vơ vét nhà đất, dù ăn vận đúng mốt vẫn không giấu nổi dáng vẻ xấu của bọn mới phất, bị ngưòi Bắc Kinh cười nhạo. Lâm Phần đựoc gọi là thành phố than, năm nay được xếp vào loại thành phố bẩn nhất thế giói. Trong không khí ở Thái Nguyên, Đại đồng có nhiều hạt sạn than. Khó tìm đựoc một nơi non xanh nuớc biếc tại Sơn Tây.

Những kẻ làm quan ở Sơn Tây vô cùng ngu muội, thích ra vẻ ta đây, lên thêm một chức là đã có ngưòi chết, chính quyền mà như nha môn. Đàn ông tuy đáng tin nhưng bủn xỉn. Ngưòi Sơn Tây nổi tiếng vì hà tiện. Ngưòi Sơn Tây dù ăn vận “nhà quan” vẫn không hợp thời, ăn uống giản dị, và ăn gì cũng phái có dấm, Phụ nữ mặc dù coi trọng đạo lý nhưng khi làm vợ cũng có chút sĩ diện Thương nhân Sơn Tây đi khắp thiên hạ, nhưng vẫn “lá rụng về cội”, thưòng đặt tổng bộ của mình tại mấy nơi nho nhỏ thuộc tỉnh quê hưong cho nên không phát triển được.

13. Người Nội Mông Cổ

Ở đây chủ yếu nói về phần phía tây Nội Mông, vì nguời dân từ Xích Phong trở về đông nói tiếng Đông Bắc. Mặc dù là khu tự trị nhưng hiện nay người Hán chiếm đa số. Thể hình ngưòi Mông Cổ thô khoẻ, mặt rộng tai lớn, con mắt như có thần, trán nhô, tóc quăn, tiếng nói kêu vang, cánh tay dài hơn nguời, trông uy vũ nhưng là cái dũng của kẻ thất phu. Có tấm lòng thiện lương, đôn hậu với người, tính cách sảng khoái, dám yêu dám ghét, ít có đường ngang ngõ tắt, uống rượu khoẻ, rất nhiều ngưòi đã Hán hoá. Ngưòi Hán ở phần tây Mông cổ rất giống ngưòi Tây Bắc dù đựoc gọi là Hoa Bắc, tiếng nói có màu sắc Tây Bắc, thật thà, an phận thủ cựu, không làm quan và buôn bán được. Bao Đầu, Hô Hoà Hạo(thành phố gang thép lớn của Trung Quốc và thủ phủ của Nội Mông) chủ yếu là ngưòi Hán di dân tới, không có nền tảng văn hoá gì,

14 . Ngưòi Đông Bắc(gồm 3 tỉnh Hắc Long Giang, Liêu Ninh, Cát Lâm và phần phía đông khu tự trị Nội Mông Cổ)

Sở dĩ gộp lại để nói vì ngôn ngữ, phong tục các vùng này rất giống nhau. Thời cổ đại Đông Bắc là vùng đất hoang dại, ngưòi Hán ngày nay ở đó chủ yếu là thế hệ sau của những ngưòi di dân nghèo khổ Sơn Đông, Hà Bắc, cũng từng là thiên đưòng của những tội phạm bị lưu đầy, những kẻ sát nhân vượt ngục trốn tội từ trung nguyên tới, chỉ trong nửa thế kỷ mà đã chịu sự thống trị của Thanh, Nga, Nhật, quân phiệt, Trung Hoa Dân Quốc, CHND Trung Hoa, ở trong tình trạng vô pháp vô thiên lâu dài, Cộng thêm sự hoà nhập Mãn, Mông, Triều, khí hậu rét mướt, đất đai rộng lớn đã hình thành nên nền văn hoá Đông Bắc độc đáo, là vùng có sự khác biệt gien lớn nhất(di truyền học cho rằng khác biệt gien càng lớn nhân chủng càng ưu tú)

Chiến dịch Bình,Tân và Liêu, THẩm chủ yếu là nhờ ngưòi Đông Bắc đánh, sau chiến dịch vượt sông, dã chiến quân số 4 do Lâm Bưu lãnh đạo đã đánh một mạch đến đảo Hải Nam, ngưòi Đông Bắc có tâm trạng lập công, lập nghiẹp, nổi tiếng rất mạnh. Đông Bắc đã từng là vùng công nghiệp phát triển nhất Trung Quốc, đựoc gọi là “con trai cả cửa nứoc Cộng Hoà”. Cho đến bây giừo vẫn là vùng có trình độ giáo dục cao nhất và giao thông phát triển nhất Trung Quốc. Hiẹn nay Đông Bắc là nơi có nhiều cán bộ công nhân viên phải rời bỏ công viẹc nhiều nhất, thưong nhân phần lớn là buôn bán nhỏ, không có lý tưởng cũng như gánh nặng cao xa, có thể nói là “to gan khi đánh trận, bé gan khi kinh doanh”.

Mấy năm gần đây đã xuất hiện một loạt nhân tài, số ngưòi giầu nổi tiếng không ít, và có nhiều ngưòi làm quan trong chính quyền . Ngưòi Đông Bắc là ngưòi có ưu khuyết điểm về tính cách rõ ràng nhất trong các ngưòi Trung Quốc(nam, nữ khác nhau biệt không lớn), nội tâm cưong nghị, bề ngoài mạnh mẽ, tính cách hào sảng, to gan, trọng nghĩa khí coi thưòng luật pháp, dễ kết bạn, thưòng nói : “đừng nói đến tiền, nói đến riền là tình cảm xa rời mất”

Rất dũng cảm, đấu tranh mạnh(kẻ trộm cắp Tân Cưong tinh ác nổi tiếng cả nứoc nhưng không dám tới Đông Bắc làm ăn).Ngưòi Đông Bắc thấy viẹc nghĩa là làm thích những việc không đâu. Phần đông ngưòi Đông Bắc rất lưong thiện, có lúc nhiệt tình đến mức ngưòi ta khó tiếp nhận. Có một số rất ít lòng dạ hẹp hòi, thích làm phỉ, xảo quyệt hung ác nên chú ý phòng ngừa.

Người Đông Bắ không cao to như một số miêu tả. Ngưòu Đông Bắc thích đánh nhau mà không tính hậu quả, khi đánh nhau ngưouì Đông Bắc thưòng tìm vũ khí nơi gầm nhất, chuyên đánh vào chỗ nguy hiểm(không ai muốn đánh nhau với ngưòi Đông Bắc) dễ bị lợi dụng làm kẻ giết ngưòi đánh thuê. Nhiều hộp đêm thích thuê ngưòi Đông Bắc làm bảo vệ. Tội phạm bạo lực ở Bắc Kinh chủ yếu là do ngưòi Đông Bắc làm, thu lộ phí đen trên mấy con đường ở Bắc Kinh về cơ bản đều là ngưòi Đông Bắc, tổ chức xã hội đen trên thị trường bán buôn tại Bắc Kinh đều do ngưòi Đông Bắc làm chủ

Xã hội đen tại Quảng Châu, Thâm Quyến, Hải Nam phần đông là ngưòi Đông Bắc, gần đây tại hầu hết các thàng phó lớn và vừa trong nứoc đều có nhóm tội phạm Đông Bắc xuất hiện(và cả tại Đông Âu, Nga, Bắc Mỹ, Nhật) địư phưong có tửu lưọng lớn nhất Trung Quốc, tỷ lệ phụ nữ hút thuốc lá uống rượu cao nhất,

Có nhiều mỹ nữ, thân cao, chân dài, nhưng da không mịn lắm, tính cách quá bộc trực, thậm chí ngay trên xe công cộng cũng ăn to nói lớn.Gốc nền văn hoá quá mờ nhạt, thích trang điểm nhưng lại không biết trang điểm, Thế nhưng con gái Đông Bắc lại ngu dại đến đáng yêu, thích ai dù chết cũng không rời, hận ai có thể giết người không run tay, muốn lấy con gái Đông Bắc phải có sự chuẩn bị về tư tưỏng. Tuy vậy có số ít gái Đông Bắc không thua kém “em gái Xuyên”, “em gái Tưong” trong nghề

Ngưòi Đông Bắc tưong đối thông minh nhưng chịu khổ kém nên số nông dân vào thành phố làm thuê rất ít, và cũng ít ngưòi chuyên tâm làm kỹ thuật, tuy vậy có khả năng mở quán ăn, công ty.

Mấy năm gần đây, ngưòi Đông Bắc di dân tới Bắc Mỹ, Đông Âu tăng vọt, có một số ngưòi đã lập nên sự nghiệp, nhưng cũng có một số ngưòi bôi đen Trung Quốc. Tỷ lệ ngưòi Đông Bắc phạm tyội tại Bắc Kinh, khẳng định cao hơn người Hà Nam, có khả năng là tiếng nói có phần giống nhau cộng thêm nguời Đông Bắc và ngưòi Bắc Kinh có hàng ngàn mối liên hệ, số ngưòi công khai chửi nguời Đông Bắc tương đối ít hoặc là không dám chửi.

So sánh thêm, thấy ngưòi Liêu Ninh tròn trịa, kinh tế cũng phát triển nhất. Cơ sở thể dục thể thao như điền kinh, các loại bóng lớn là tỉnh tốt nhất trong các tỉnh. Ngưòi Hắc Long Giang tưong đối thô lỗ, giỏi hạ thủ Bắc Đại hoang mà(xã hội đen bức xạ cả nước) . Ngưòi Cát Lâm tưong đối quê có chú dụt dè “trứoc có sói, sau có hổ”sói là Liêu Ninh, hổ là Hắc Long Giang Điều kỳ lạ là tiếng Cáp Nhĩ Tân là tiếng vùng Đông Bắc gần gũi nhất với tiếng Bắc Kinh. Tiếng nói Đại Liên càng giống tiếng vùng Giao Đông. Ngưòi Đại Liên có cảm giác ưu việt, nhưng tưong đối hư vinh, cho là Đông Bắc chỉ có Đại Liên là đựoc, các thành phố khác đều chẳng ra sao.

Đàn ông Đông Bắc nói năng ngọt ngào, giỏi nịnh phụ nữ, nhưng đa số có khuynh hướng coi đàn ông là nhất, có ngưòi đánh vợ.

15. Người Sơn Đông

Quê hưong Khổng Mạnh, tỉnh của lễ nghiã, từ xưa Sơn Đông đã có nhiều tuớng, nhiều kẻ sĩ trung nghĩa.Có thể là do quá thẳng thắn nên ít có nhà âm mưu và hoàng đế. Hình tượng của người Sơn Đông nói chung khá tốt, đàn ông có tinh thần trách nhiệm cao, trung hậu, bộc trực, nặng tình người, trọng hiếu thuận, bên ngoài thô lỗ, bên trong tốt đẹp, được văn hoá nhà Nho tôi rèn, đặc biệt coi trọng quan hệ giao tiếp và tôn trọng đẳng cấp.

Quan niệm gia đình mạnh, rát thích hợp làm bố chồng; phụ nữ hiền hậu lo việc nhà, nhưng ngang ngựoc, chân tưong đối to, tiếng nói rất khó nghe. Ý thức quê cha đất tổ của người Sơn Đông rất nặng lòng tự hào rất mạnh. Ngưòi Sơn Đông nấu rượu giỏi nhưng phần lớn là rượu kém chất lượng. Ngưòi Sơn Đông thích ăn hành tỏi, nên phần lớn đều hôi mồm, nhưng ít ngưòi mắc bệnh ung thư, nói chung.ăn ít rau, cứ có hành tỏi là được.

Người Sơn Đông thích ăn màn thầu(bánh bột mì hấp không nhân) thân người cao lớn. Tíếng Sơn Đông nghe có vẻ thân thiết. Vùng ven biển rất giàu, nhất là vùng Thanh Đảo, Yên Đài, nghe nói kinh tế Sơn Đông sẽ nhanh chóng vượt Quảng Đông để trở thành nhất nứoc.

Quan niệm của ngưòi Giao Đông tưong đối mạnh, nhièu ngưòi Thanh Đảo cho rằng làm ngưòi Sơn Đông có chút thiệt. Đội bóng đá Thanh Đảo thi đấu quyết tử với đội bóng của tỉnh. Phụ nữ Thanh Đảo rất thời thưọng, mỹ nữ không ít, Một vài nơi trong tỉnh còn nghèo.

16. Ngưòi Giang Tô

Miền nam Giang Tô và miền bắc Giang Tô hoàn toàn không giống nhau. Miền nam mưa thuận gió hoà là nơi có nhiều tài tử giai nhân, trong lịch sử số ngưòi đỗ tiến sĩ đều nhiều hơn bất kỳ tỉnh nào, các đại gia nghệ thuạt, đại gia văn học, bậc thày khoa học đời nào cũng nhiều. Người nam Giang Tô nhã nhặn, có nhiều môn đệ thư huơng, nhà ở đẹp, món ăn ngon, con gái cũng đa tài đa nghệ, dịu hiền mê ngưòi( làm vợ rất tốt nhưng hay tiếng to tiếng nhỏ) . Nơi này mưa phùn nhièu, gió lành thổi khắp, ngay nam giưói cũng có tướng phụ nữ, da mịn, nói năng nhẹ nhàng, hành động từ tốn, giỏi tính toán, nhưng tinh ranh quá. Ngưòi ở đây rất thông minh khí chất thư sinh rất nồng, số ngưòi ra ngoài học tập đứng đầu cả nứoc.

Ngưòi nam Giang Tô rất tôn trọng pháp luật, trị an ở Nam Kinh, Tô Châu cũng đứng hàng đầu, kẻ gian trong khoa học phần lớn là ngưòi An Huy và bắc Giang Tô.Đàn ông Giang Tô nhu nhựoc dễ bị bắt nạt. Năm 1937, ngưòi Nhật một lúc sát hại hơn 30 vạn người mà nhiều người chạy không kịp. Năm 1644 quân Thanh vây thành Dưoing Châu, Giang Âm, một lính Mãn Thanh có thể giải 60 ngưòi ra pháp trưòng mà không phải trói, rồi lần lượt chém từng người, mà không ai dám chạy

Từ Châu là trung tâm của vùng bắc Giang Tô, ngưòi ở đây cao lớn.

Trước đây động một chút là khởi nghĩa, sau này lại nhiều ăn mày(trong lịch sử bắc Giang Tô, bắc An Huy nổi tiếng vì có nhiều ăn mày) Có tiền cũng đi ăn xin. Tiếng Từ Châu giống mà lại khônggiống tiếng Sơn Đông, tiếng Hà Nam, tựthành một giọng riêng. Bắc Giang Tô kinh tế tương đối lạc hậu, hình tưọng tại bên ngoài không hay lắm,, nhất là tính thích chiếm lợi nhỏ nổi tiếng số một. Trong bản tìm bạn trai của một cô gái Thượng Hải đã ghi “nhân sĩ bắc Giang Tô xin miễn bàn”

17. Người Thựơng Hải

Thượng Hải là thành phố phát triển nhất của Trung Quốc, tính bao dung kém, thịnh hành tiếng địa phương, ngưòi ngoại tỉnh khó hoà nhập. May mà không phải là thủ đô, nếu không ngay ngưòi Bắc Kinh cũng không coi ra gì, với ngưòi Thượng Hải ngưòi ngoại tỉnh nhất loạt đều là “dân nhà quê”. Thế nhưng Thưọng Hải mới có hơn một trăm năm lịch sử, có tới 1/3 dân Thưọng Hải là di dân Ninh Ba. Phụ nữ Thượng Hải cử chỉ dễ nhìn, ăn nói hoà nhã rất có phong cách nữ giới. Nhưng con gái Thưọng Hải không thích hợp với ngưòi ngoại tỉnh, phần lớn, chỉ thích lấy chồng Nhật, chồng Hàn quốc, trong đó lấy chồng Nhật là lý tưỏng của không ít cô.. Đàn ông Thượng Hải tiểu khí, tự tư, tính toán chi li, thưòng cãi vã hồi lâu trên đường phố, nhát gan, sợ vợ, thậm chí giặt cả đồ lót cho vợ, thưòng bị gọi là “thằng nhỏ”

Thực ra nếu nhìn từ góc độ khác sẽ thấy nam giói Thưọng Hải rất tôn trọng nữ giưói, chăm sóc vợ chu đáo. Trong tư giao người Thưọng Hải tương đối có lỹ trí, có thể là bạn tri âm về tinh thần. Cho nên có không ít nhà ngân hàng, thương nhân và học giả ngưòi thi nhân, nhưng khó có nhà thơ, võ tưóng và hiệp khách. Thương nhân Thưọng Hải đều là người tinh thông nghề nghiệp, vừa thông thạo hàng hoá vừa giỏi lý. Ngưòi Thưọng Hải kiếm tiền không giỏi, nhưng có tư cách, sinh hoạt nghiêm túc, biết giữu chữ tín, tông trọng luật pháp. Chất lưọng sản phẩm ThưọngHải đứng đầu cả nứoc. Ngưòi Thưọng Hải không tranh giành với người, thích hợp với việc kết bạn nhưng trước tiên phải làm cho họ nể mình.

18. Người An Huy

Từ xưa An Huy đã là nơi cùng khổ, ở giữa sông Trường giang và sông Hoài, thiên tai không dứt, mỗi lần chấe tranh, loạn lạc đều không tránh An Huy. Người An Huy linh hoạt mềm dẻo không bằng người phương nam. cương nghị dũng mãnh không bằng người phương bắc, là tính cách quá độ của ngưòi phương bắc và ngưòi phương nam. Đàn ông An Huy chất phác ít nói, giỏi và nhanh nhạy trong suy nghĩ, chịu khổ được, kỹ thuật khá. Con gái An Huy mông lung, da trắng toát. Huyên Vô Vi nổi tiếng là tỉnh có nhiều bảo mẫu trong cả nước. Người An Huy giữ được nhiều mỹ đức truyền thống của dân tộc Trung Quốc. An Huy là tỉnh lớn có nhiều nông dân vầo thành phố làm thuê(sau tết nguyên đán có từng đoàn chuyên xa chở nông dân vào thành phố làm thuê quay lại Thưọng Hải) dân An Huy trên công trưòng khá nhiều.Tuy vậy thuơng nhân huyện Vi xưng hùng thế giới 300 năm. An Huy có ảnh hưỏng rất sâu xa tới chính trị và văn hoá cận đại Trung Quốc

Kinh tế An Huy hiện nay không nổi bật, thậm chí GDP không bằng một thành phố Tô Châu, Vô Tích, Thưòng Châu. Kêu gọi đầu tư khó, doanh nghiệp vừa mở cửa đã bị các loại phí làm sụp đổ, không làm anh chết cũng khiến anh phải bỏ chạy. Luôn mồm nói học Chiết Giang, học Sơn Đông nhưng chỉ học trên miệng, càng học khoảng cách càng lớn. Phựng Dưong là huyện thực hiện khoán đến hộ sớm nhất nước nhưng nay vẫn nghèo.

An Huy là tỉnh địa linh nhân kiệt, nhân tài ưu tú rất nhiều, mỗi năm chạy ra tỉnh ngoài không ít. Thượng Hải là nơi ngưòi An Huy muốn tới nhất, nhưng về có bản người Thượng Hải lại coi ngưòi An Huy không ra gì. Nam Kinh là thành phố gương mẫu cả nước về trị an, tội phạm chủ yếu ở đó là người An Huy. Gạo nhiễm độc, thuốc giả đã huỷ hoại danh tiếng An Huy. Hợp Phì, và Trịnh Châu tập trung nhiều công ty lừa gạt. Nam An Huy phong cảnh rất đẹp là nơi du lịch phát triển.

19. Ngưòi Chiết Giang

Từ xưa là vùng đất hoang dại. Từ sau đời Đông Tấn khi mở mang Giang nam mới đựoc lhai thác. THời Nam Tống trở thành vùng giàu nhất Trung Quốc. Chiết Giang nhiều sôngnhiều núi, tiếng địa phương phức tạp như Phúc Kiến, tiếng Hàng Châu,tiếng Thiệu Hưng, tiéng Ninh Ba, tiếngd Đài Châu, tiếng Ô Châu chẳng ai nghe hiểu ai. Chiết Giang là tỉnh văn hoá lớn của Trung Quốc, có nhiều nhân tài”Giang nam nhiều sông nhiều núi nhiều tài tử”, nhưng hiện nay về giáo dục, khoa học, y tế, thể dục thể thao đều kém Giang Tô nhiều.

Trong lịch sử Chiết Giang đã từng có nhiều đại thưong nhân giàu có nhất thiên hạ, tài phiệt Chiết Giang là cơ sở của chính quyền Tưỏng Giói Thạch. Thương nhân An Huy là nhóm người biết kiếm tiền nhất nước. Đầu óc người Chiết Giang linh hoạt, giỏi suy tính, biết cách thay đổi., đoàn kết, thực tiễn. Phụ nữ dịu dàng như nước, chịu được khổ, buôn bán không thua nam giới . Giầy da và quần áo của ngưòi Ôn Châu bán khắp thế giới. Ngưòi Chiết Giang đặt chan hàu như trên mọingành nghề của Trung Quốc như nhà đất, điện, khai thác mỏ, xây dựng, internet, kỹ thuật cao v.v… Trứoc đây Chiết Giang llà tỉnh xuất khẩu lao động lớn nhưng hiện nay ít thấy nông dân Chiét Giang vầo thành phố làm thuê vì họ đã hoàn thành tích luỹ tư bản nguyên thuỷ. Ngưòi Chiết Giang lấy bốn biển làm nhà, như kiến chạy khắp thiên hạ, hầu như xó xỉnh nào cũng có ngưòi Chiết Giang. Thương nhân Chiết Giang mà Ôn Châu là đại biểu được gọi là “người Do Thái Trung Quốc”

Năng lực sinh tồn của ngưòi Chiết Giang khiến ngưòi phương tây khiếp sợ. Trong đầu óc người Chiết Giang, buôn bán không có vùng miền, thị trưòng không có giới hạn. Chỉ cần kiếm được tiền thì dù là khuy áo, bật lửa, kính bút, giầy dép họ đều làm tất. Có tới 5 triệu người Chiết Giang thành đạt ở ngoài. Ngưòi Chiết Giang kinh doanh nhà đất khắp nước, khai thác than ở Sơn Tây, bán quần áo, giầy dép ở châu Âu, thậm chí mở siêu thị ở châu Phi.

Nhưng cũng có nhiều thưong nhân ngưòi Chiết Giang làm hàng giả bán hàng giả, buôn lậu . Giầy da, thắt lưng, quần áo Ôn Châu đã từn là đại danh từ cho sự giả mạo xấu xa, ảnh hưỏng nghiêm trọng tới danh tiếng hàng hoá Trung Quốc. Gần đây Mỹ tẩy chay hàng hoá Trung Quốc, Tây Ban nha đốt giầy Trung Quốc về cơ bản đều có liên quan tới ngưòi Chiết Giang, các cơ sở sắc tình ở Ô Châu nổi tiếng xấu cả nước. Chiết Giang cũng phân hoá hai cực, miền tây và một số nơi trong tỉnh còn nghèo.

20 .Ngưòi Giang Tây

Trong ngòi bút của Vưong Bột(nhà thơ Đưòng nổi tiếng), đây là “quê hưong của cá và gạo”. Các danh nhân văn hoá các đời nối nhau xuất hiện, Đào Uyên Minh, Vương An Thạch, Âu Dương Tu, Văn Thiên Tưòng, Thang Hiển Tổ…Lý học Trình Chu, tâm vuơng Lục vưong , Phật học Thiền tôn, Đạo học Lão Trang đều bắt nguồn ở Giang Tây, hoặc hình thành tại Giang Tây. Có thể nói Giang Tây chiếm một nửa văn hoá truyền thống ưu tú của Trung Quốc.

Phần lớn ngưòi Giang Tây là ngưòi Khách Gia, cũng phần lớn là những dòng họ ở Trung nguyên phưong bắc thời Tấn, Đưòng di dân đến, là những người thừa kế văn hoá chính thống, được tôi rèn lâu dài tư tưỏng trung thành của nhà Nho và quan niệm vô vi của Đạo giáo, nên bằng lòng với hiện trạng, trung dung bảo thủ, trung thành, giữ chữ tín, ý thức mạo hiểm không sâu, quan niệm gia tộc rất mạnh, có tới 8994 nhà thờ họ tại Giang Tây, nhiều nhất nước, do vậy tiếp nhận tư duy mới, sự vật mới rất khó. Giang Tây thuộc vùng “đầu Ngô đuôi Sở” cộng thêm là thành phố trong nội địa, nên ngưòi Giang Tây có ý thức kinh tế tiểu nông như đóng của, bảo thủ, tự mãn tự rúc ở trình độ nhất định. Những tổ tiên của người Giang Tây phần lớn là chaỵ trốn chiến tranh mà đến nên tâm thái mong muốn hoà bình, an cư lạc nghiệp ảnh hưởng đến hậu duệ. Ngưòi Giang Tây thật thà, hàm súc, không khoe khoang và cũng không giỏi thể hiện.

Ngưòi Giang Tây khá giống câu nói “ngưòi sợ nổi tiếng, lợn sợ béo” đạo xử thế này có cái hay là quan hệ giao tiếp tưong đối hài hoà. Nhưng quan niệm này đồng thời cũng có khuyết điểm là không để cho ngưòi ta biết mình. Người Giang Tây nổi tiếng vì phong cách thận trọng. Con gái Giang Tây tuy không nổi tiếng phong tình như gái Hồ Nam sát ngay cạnh, nhưng tính nết hiền thục, nấu ăn rất giỏi.

Mặc dù là thủ phủ của tỉnh nhưng Nam Xưong là thành phố loại vừa miền trung của Trung Quốc, thành phố tương đối loạn, đầy rác rưởi, cữô nào cũng thấy ngưòi vi phạm kỷ luật trật tự, động một tí là cãi nhau. Cảnh Đức vốn được gọi là thủ đô sành sứ nay đã thành hư danh, hàng giả rất thịnh hành. Giang Tây là tỉnh nghèo nhất vùng Hoa Đông, số huyện nghèo đứng đầu cả nước, tại đây khó tìm ra một vùng giầu có.

21. Người Phúc Kiến

Phúc Kiến là tỉnh non xanh nứoc biếc nhưng giao thông rát kém, không đủ đát canh tác, chỉ giỏi buôn bán và lừa gạt. Nhiều Hoa Kiều và kiều bào ở Đài Loan. Bắc Mỹ, bắc Âu đều có ngưòi Phúc Kiến, ngoại tệ từ nứoc ngoài chảy về không dứt, các thôn đều có ngân hàng. Ngưòi Phúc Kiến đặc biệt giỏi buôn bán, chăm chỉ chịu đựoc khổ, thích mạo hiểm năng lực thích ứng mạnh, thích thú giang hồ đó đây, không có học cũng làm ăn buôn bán(ngưòi đi học ở Phúc Kiến rất ít). Ngưòi Phúc Kiến không dễ tin ngưòi.

Quần áo, giầy mũ Tuyền Châu, Tân Giang, Thạch Sư nổi tiếng thiên hạ, ngưòi huyện Sa mở quán ăn nhỏ khắp nước. Ngưòi Phu Điền ngoài việc bán quần áo còn có phưong thuốc gia truyền chữa bệnh liên quan đến tính biệt, có tới80% hiệu thuốc chữa các bệnh thuộc loại đó có ông chủ là ngưòi vùng này. Là tỉnh có nhiều tiếng địa phương như tiếng Phúc Châu, tiếng Ninh Đức, tiếng Tuyền Châu, tiếng Long Nhâm.. chẳng ai nghe hiểu ai. Nghe nói có nơi người bên này núi nghe không hiểu người bên kia núi nói, không khuyếch đại chút nào.. Dùng gái để lừa tiền tại Phúc Châu một dạo nổi tiếng.

22 . Người Đài Loan

Ngưòi Đài Loan hiện nay chủ yếu là do ngưòi dân đã ở đó từ trước, di dân nam Phúc Kiến thời kỳ đầu và di dân đại lục khi Quốc Dân đảng chạy ra đó tổ thành. Đài Loan là văn hoá đảo nhỏ là một nên văn hoá á Trung Quốc phụ thuộc Trung Quốc. Ngưòi Nhật thống trị Đài Loan 50 năm, ngưòi Đài Loan bị coi là công dânhạng hai, quan văn làm không đến trưởng khoa(khoa một đơn vị hành chính dưói cấp phòng) quan võ không đến cấp tá. Nghe nói ngưòi Đài Loan hiện nay ít có cảm giác đồng thuận với ngưòi Trung Quốc đại lục phần lớn chỉ cho mình là ngưòi Đài Loan, đồng thời đã bị tây hoá nặng nề

Thế nhưng người Đài Loan đến đại lục kinh doanh khong thích bàn chuyện chính trị. Ngưòi Đài Loan vô cùng mê tín, rát thích bao “nàng hai”. Tuy vậy họ sống có qui củ, có thứ tự trên dưới già trẻ, trọng nam khinh nữ.

Người Đài Loan trên đảo có cảm giác quần thể rất mạnh, nhưng các phe phái đấu tranh rất dữ. tuy vậy tính cách nhu nhược. Mafia Đài Loan thích dùng vũ khí tất nhiên là vũ sĩ đao. Tuy vậy mafia không được coi là chính đạo ở đây.

23 . Người Tứ Xuyên

Tứ Xuyên có thể coi là tỉnh lớn văn hoá trong lịch sử, mỗi đời đều có nhiều nhân tài. Nổi tiếng có nhà thơ Lý Bạch đời Đường(cũng có thuyết nói là ngưòi Cam Túc) có “ba Tô” đời Tống(chỉ 3 cha con nhà văn Tô Tuần), các nhà văn hiện đại Ba Kim, Quách Mạt Nhược, các chính khách tướng lĩnh như Chu Đức, Lưu Bá Thừa, Trần Nghị, Đặng Tiểu Bình v.v.. đều là ngưòi Tứ Xuyên. Đất Ba Thục thời xưa được gọi là “thiên phủ chi quốc”(kho của nhà trời), sản vật dồi dào, Lưu Bang, Lưu Bị đều lấy đó làm căn cứ địa, dân số khá đông. Nhưng bị trói buộc, hạn chế bởi văn hoá bồn địa(vùng trũng), bản tính bảo thủ, khép kín. Người Tứ Xuyên hiếu chiến, hay chửi bậy, họng to nói lớn. Đàn ông Tứ Xuyên phần lớn béo lùn, mặt to, mũi nghiêng, mắt to, thông minh lanh lợi. Thích uống rượu, kỹ thuật nấu rượu nhất Trung Quốc, có nhiều loại rượu ngon.

Ngưòi Tứ Xuyên giỏi ăn uống chơi bời, thích đánh bạc. Thích ăn cay, lẩu cay nổi tiếng cả nước. Thành Đô là một thành phố nhàn tản, nhiều ngưòi chơi chim cảnh, hoặc đi dạo phố. Nhiều thành phố thị trấn ở Tứ Xuyên thiếu sức sống. Năng lực phụ nữ Tứ Xuyên rất mạnh, nhiều đàn ông phải dựa vào vợ nuôi sống. Mỹ nữ Tứ Xuyên rất nhiều, là tỉnh lớn nhiều mỹ nữ nhất Trung Quốc. Số lưọng làm “vợ hai” đông nhất nước, số phụ nữ phong trần cũng đông nhất nước. Tứ Xuyên là tỉnh có nhiều nông dân vầo thành phố làm thuê, họ tới hầu hết các thành phố lớn trong nước, nhất là vùng đồng bằng sông Châu Giang.

24. Ngưòi Trùng Khánh

Thời xưa Tứ Xuyên thuộc đất của ngưòi Thục, Trùng Khánh thuộc đất của ngưòi Ba, người Ba và ngưòi Thục coi nhau là tử thù(hiện nay hai đội bóng hai nơi này gặp nhau là tử chiến) Nhưng Ba Thục đã trải qua mấy lần chiến tranh loạn lạc, thời Minh, Thanh khi quân đội vào Xuyên đã gây ra nhiều cuộc thảm sát, ngưòi Thổ Giả dưòng như bị giết gần hết(đến đầu đời Thanh chỉ còn 90 vạn ngưòi) Vì vậy dân Tứ Xuyên ngày nay là sự hoà nhập của di dân Hồ, Quảng, Vân Nam. Trùng Khánh là thành phố trên núi, còn bề bộn lắm.

Số ngưòi Trùng Khánh nghiện hút tương đối nhiều, thịnh hành đánh bạc, ngưòi mở quán trà đông, uống trà nhiều có khả năng để đánh bạc, chủ quán trà phần lớn là mafia. Mùa hè chỗ nào cũng thấy ngưòi đầu trọc chân đất đi du ngoạn hoặc vây quanh nồi lẩu sặc mùi ớt ăn uống. Đàn ông Trùng Khánh hiếu sắc. Trùng Khánh ban đêm được coi là Hồng Công nhỏ, trăm hồng ngàn tía vô cùng phồn hoa. Mấy huyện của Trùng Khánh dù kinh tế chưa ra làm sao nhưng ngành dịch vụ rất sôi nổi. Ngưòi Trùng Khánh không giống ngưòi Hồ Bắc làm xong rồi mới chơi mà lại chơi rồi mới làm.

Phụ nữ Trùng Khánh cũng giống như phụ nữ Tứ Xuyên có thói quen chơi mạt chược. Họ không ưa đàn ông bản địa mà thích rời xa quê hương đi làm thuê. Trùng Khánh có trên 32 triệu dân, nhưng số ngưòi có trình độ từ trung cấp chuyên nghiệp trở lên chỉ có hơn 1 triệu, vào khoảng 3%. Ngưòi Tứ Xuyên đều cho rằng Trùng Khánh chỉ là một bộ phận của Tứ Xuyên, nhưng người Trùng Khánh sau khi được tách ra thành thành phố trực thuộc trung ương đã trở mặt không cho là như vậy. Tuy nhiên về nguồn gốc lịch sử hai nơi không có khác biệt lớn.

25. Người Quý Châu

Quý Châu là tỉnh dễ bị lãng quên nhất, nghe nói khi thành lập tỉnh còn tranh cãi không thôi. Quý Chây là tỉnh duy nhất tại Trung Quốc không có đồng bằng, vào Quý Châu như vào một đất nước toàn núi đồi, hầu như không thấy một mảnh đất bằng phẳng nào lớn một chút.

Dân vùng núi có cuộc sống tưong đối nghèo nàn. Thành phố thủ phủ Quý Dương có hơn 1 triệu dân, gần đây được Cục Khí tưọng quốc gia cho là “thủ đô nghỉ mát của Trung Quốc” khiến ngưòi Quý Dương rất tự hào đắc ý. Tuân Nghĩa là nơi Hồng quân đi qua trên đưòng trường chinh, với cuộc họp mang tính lịch sử mà nổi tiếng.

Trong 3 tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên tập quán ăn uống và ngôn ngữ của Quý Châu gần với Tứ Xuyên hơn. Quý Châu có thể coi như tỉnh của dân di cư, ngoài một số dan tộc thiểu số như Mèo, Bố Y… ra, ngưòi Hán đến đó đều qua mấy lần di dân lớn. Do mấy nguên nhân như là miền núi xa xôi, giao thông không tiện, phát triển chậm, văn hoá lạc hậu.. Quý Châu ít có nhân tài. Người Qưúy Châu tại các tỉnh trong nội địa, khoả mạnh hay làm, nhưng tinh thần chịu khổ không bằng người Tứ Xuyên. Gàn đây số nông dân vào thành phố làm thuê tăng nhiều, phần lứon tới đồng bằng sông Chau Giang, số thiếu nữ lâm vào cảnh phong trần không ít.

26. Người Vân Nam

Trong 3 tỉnh vùng Tây Nam, Vân Nam là tỉnh có mầu sắc vùng biên nhất. Thời Hán Vũ đế đựoc gọi là “đám mây đầy màu sắc ở phưong nam”. Thành phố thủ phủ Côn Minh bốn mùa là xuân khí hậu tốt lành cảnh vật tuyệt đẹp. Vân Nam là tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số nhất Trung Quốc, Các dân tộc đều có văn hoá độc đáo của mình như ca múa của dân tộc Bạch tại Đại Lý, nhạc cổ của tộc Nạp Tây vùng Lệ Giang. Dân tộc Thái ở Xi Song Bản Na phong tình, đều là những điểm du lịch đông khách. Nhìn chung do được thiên nhiên ưu đãi về địa lý và môi trường văn hoá nên Vân Nam được coi là tỉnh có sức hấp dẫn lớn về du lịch

Vân Nam phát triển tưong đối muộn vì ngưòi nội địa rất ít muốn tới vùng đất xa xôi này. Sau thời cận đại mới có người tới . Những ngưòi nổi tiếng của Vân Nam là nhà hàng hải Trịnh Hoà, nhà âm nhạc Nhiếp Nhĩ, nhà triết học Ngãi Tư Kỳ. Ưu đãi của thiên nhiên đã khiến ngưòi Vân Nam phải trả bằng tính khép kin. So sánh với ngưòi Tứ Xuyên, ngưòi Vân Nam tỏ ra thoả mãn với cái vòng nho nhỏ của mình, an cư lạc nghiệp, tầm nhìn ngắn hẹp, tính cách nhu nhược, ít ra ngoài, rất ít gặp ngưòi Vân Nam tại các nơi khác trong nuớc.

Kinh tế Vân Nam phát triển không hài hoà, còn nhiều vùng nghèo. Thuốc lá là ngành công nghiệp chủ đạo và cũng là tỉnh lớn nhất về ma tuý.Có vùng biên giới gần “tam giác vàng”, rất nhiều người kiếm sống bắng cách buôn ma tuý, có nhiều “thôn gái goá”(đàn ông bị bắn chết)

Vân Nam là tỉnh khá đông dân(45 triệu), người Vân Nam nhỏ bé ít trai tài gái sắc

27. Người Tây Tạng

Có nguồn gốc là hậu duệ của Thổ Phiên thời xa xưa, và pha tạp với huyết thống thổ dân Tây bắc. Vưong triều Thổ phiên Tùng Tán Can Bố thịnh trị một thời. Sau khi Hốt Tất Liệt chinh tây mới bị đưa hẳn vào bản đồ Trung Quốc. Người Tây Tạng mang khí hậu cao nguyên, tia tử ngoại ở đây chiếu khá mạnh, sắc mặt người đen, da có màu giống da ngưòi Ấn Độ, tuy vậy không đen đều. Đàn ông ngưòi Tạng tóc quăn. Phụ nữ Tây Tạng không đẹp. Ngưòi Tây Tạng coi trọng thờ cúng, chân thật mà khoan dung. Tây Tạng là nước Phật, ở đây không có đạo nào khác.

Nói chung người Tây Tạng ít nói chuyện vệ sinh( nghe nói rất nhiều ngưòi chỉ tắm rửa khi mới chào đời và sau khi chết). Họ hiếu khách, thường mời uống trà sữa, rượu hoa quả. Vùng núi phía nam là “Giang Nam của Tây Tạng” có khí hậu á nhiệt đới, sản vật dồi dào, là nơi bắt nguồn của văn minh Tây Tạng nhưng phần lớn bị Ấn Độ chiếm đóng(120.000km2, lớn hơn tỉnh Chiết Giang) là một bang của Ấn Độ. Ceylan vốn là thuộc quốc của Tây Tạng, “Tạng độc”(tổ chức ngưòi Tạng đòi độc lập) tại hải ngoại được Ấn Độ, Âu Mỹ ủng hộ. Ngưòi Tây Tạng có quầy hàng nhỏ tại nhiều nơi trong nuớc, bán một số đồ trang sức đặc sắc Tây Tạng, so với người Duy Ngô Nhĩ(Urge) thì tưong đối ôn hoà, ít có tội phạm bạo lực. Ngưòi Hán ở Tây Tạng chưa hình thành văn hoá địa vực, chủ yếu là ngưòi Tứ Xuyên, Trùng Khánh v.v. đến Tây Tạng buôn bán và làm nhân viên. Diện Tích Tây Tạng rộng lớn, dân số ít, khí hậu khắc nghiệt, ngưòi Hán chủ yếu tập trung tại các thành phố, phần đông ngưòi Tạng đã qua cuộc sống du mục.

28. Người Thiểm Tây

Thiểm Tây là nơi phát nguyên nên văn minh truyền thống Trung Quốc, ở đây có thể tìm thấy dấu vết ban đầu của Hoàng Đế(ông tổ nhân văn ban đầu” của Hoa Hạ. Các triều đại Tây Chu, Tần, Tây Hán, Tuỳ, Đường đều đóng đô ở đây, nghe nói có rất nhiều thôn trang cứ đào đất lên là thấy văn vật. Có rất nhiều danh nhân trong lịch sử, Bạch Cư Dị, Tư Mã Thiên, Lỹ Tự Thành… đều là ngưòi Thiểm Tây. Cơ thể ngưòi Thiểm Tây phát triển đều, rất khỏe, quân Tần xưa được mệnh danh là “đội quân hổ báo”, khiến quân chư hầu nghe thấy gió là bỏ chạy

Ngưòi mặt vuông dài rất phổ biến, chất phác thật tàh nhưng lại sảng khoái hào phóng. Nhưng họkhá bảo thủ, bằng lòngvới hiện trạng, thích hò hát nhưng không giỏi kiếm tiền do vậy về tổng thể, Thiểm Tây vẫn là tỉnh nghèo.

Ngưòi ThiểmTây không những thích hát dân ca mà chửi ngưòi không thua người Đông Bắc. Ngưòi Thiểm Tây ăn uống giản dị, thích ăn thịt thái to, uống rượu bằng bát. Đàn ông Thiểm Tây quyến luyến gia đình, ít ngưòi ham gái, càng không có “vợ hai”. Con Gái Thiểm bắc dịu dàng nhưng nội tâm cưong nghị.

Thiểm Tây có nhiều món ăn bình dân nổi tiếng, nhưng phần lớn là món ăn của dân tộc Hồ. Tây An l;à cố đô lớn nhất của Trung Quốc, đại học Tay An là đại học nổi tiếng của vùng tây. Ngưòi Tây An tương đối xảo quyệt bị coi là xấu nhất trong vùngTây Bắc. Vùng Thiểm bác tuy nghèo nhưng dân gian hiền hậu do đó đảng cộng sản Trung Quốc mới đứng đựoc ở đó lâu dài; phong tục, ngữ ngôn Thiểm bắc gần gũi với Tứ Xuyên, Hồ Bắc.

29 . Ngưòi Ninh Hạ

Ninh Hạ là nơi tập trung ngưòi Hồi đông nhất Trung Quốc, dân Hồi chiếm 1/3 dân số trong tỉnh. Dân Hồi đến từ Trung Á tạp cư với dân bản địa . Theo đạo islam, thức ăn đơn giản, thích ăn thịt bò, cừu, kiêng thịt lợn, thích đội mũ trắng không vành. Diện tích Ninh Hạ nhỏ, có 6 triệu dân, ngưòi mang họ Mã đông nhất, thổ phỉ “Mã gia quân” nổi tiếng ở Tây bắc. Ngưòi Hán ở Ninh Hạ rất ít là thổ phiên, phần lớn đến từ Sơn Tây, thời Minh di dân đến khai hoang có tới hàng chục vạn ngưòi . Phần lớn Ninh Hạ là sa mạc.

Rất nhiều ngưòi Ninh Hạ nhìnbên ngoài thấy huanh cá nhưng thực ra trong lòng nhân hậu, đối xử với ngưòi chân thành. Kinh tế Ninh Hạ tương đối lạc hậu, không có nơi nào giầu có, rất ít có danh nhân, giống với các tỉnh tây bắc khác tính ccáh ngưòi nơi đay bộc trực, bảo thủ kém thông minh. Khôngcó mỹ nữ. Ngân Xuyên là thủ phủ tỉnh nhưng qui mô chỉ bằng thành phố loại vừa vùng duyên hải.

30. Người Cam Túc

TỪ xưa Cam Túc đã là vùng biên tái, đất đai chủ yếu là hoàng thổ vấ mạc. Rất nhiều địa phưong “xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan”(gió xuân không tới Ngọc môn quan) hoặc “Tây xuất Dương quan vô cố nhân”(ra khỏi tây Dưong quan là không có bạn) có thể nói là vô cùng thê lưong. Tìa nguyên văn hoá rất phong phú nhất là văn hoá Đôn Hoàng, thứ nữa là con đưòng tơ lụa. Danh nhân Cam Túc trong lịch sử có Phi tuớng quân Lý Quảng, Đưòng Cao Tôn Lỹ Zuyên, “thi tiên” Lý Bạch nghe nói quê ở Lũng Tây. Các nơi ở CamTúc đều nghèo.Ở một góc Tay bắc trong lịch sử thường loạn lạc không yên, nơi chính quyền giao tiếp dân tộc hội hợp

Cũng có thể do là nơi phân tranh trong lịch sử, nên nơi này bị nhiều vết thương từ bên ngoài và đã ảnh hưỏng nhiều tới tính cách người Cam Túc rất lớn, như quá bảo thủ, ít sáng tạo, chậm tiếp thu cái mới. Thành phố Lan Châu bốn mặt là núi, ô nhiễm nặng nề nhưng con gái ăn nói rất cởi mở. Ninh Hội là huyện nghèo cấp quốc gia, hiện nay ngay nước uống cũng còn là vấn đề nhưng là nơi năm đó Hồng quân hội sư trên đưòng trường chinh, tuy vậy dân rất hiếu học. Nghe nói chỉ riêng vùng thung lũng Silicon Bắc Kinh đã có tới hơn 1000 nhân tài cao cấp ngưòi Ninh Hội. Có thể vì là vùng sa mạc nên ngưòi Cam Túc phần đông mặt đỏ, thân ngưòi khoẻ mạnh,ít ốm vặt.

31. Người Thanh Hải

Câu nói “Ông mày đứng đái ở đầu Tam Giang thì có tới hai phần ba ngưòi Trung Quốc uống được” là để hình dung ngưòi Thanh Hải. Thanh Hải là nguồn nước lớn nhất Trung Quốc. Thanh Hải rộng tới 720.000 km2 nhưng chỉ có 5 triệu dân, nếu chỉ xét riêng về dân số sợ không tính nổi là một tỉnh. Dân cư chủ yếu là ngưòi Hán, ngưòi Tạng(trong lịch sử phần lớn thuộc vùng Tạng, hiện nay ngưòi Hán đã chiếm ưu thế tuyệt đối) Do dân số ítlại là vùng tụ cư của nhiều dân tộc cho nên không hình thành văn hoá địa vực độc đáo. Trên cao nguyên tia tử ngoại chiếu mạnh nên người sống ở đó có nứoc da đen nâu, tính cách sảng khoái, chất phác, lưong thiện, trung hậu, chưa bị ngoại giới làm ô nhiễm. Do ở sâu trong nội địa, nên học phong kém, khép kín, ít va đập, phát triển chậm, không có ngành sản xuất then chốt, chủ yếu là dựa vào xuất nguyên liệu, ít dân buôn, yên tâm với hiện trạng, hầu như chưa có danh nhân. Ngưòi Thanh Hải có tửu lượng có thể nói là đứng đầu cả nước. Nghe nói tại vùng dân tộc ít ngưòi rất dễ mua được súng. Thủ phủ Tây Ninh chỉ là một thành phố loại vừa, một số thành phố khác thực ra chỉ là thị trấn nhỏ.

32. Người Tân Cưong

Diện tích rộng lớn, tài nguyên phong phú, là tỉnh giầu nhất vùng Tây Bắc. Huyết thống và thành phần dân tộc khá phức tạp, nguồn gốc sớm nhất là Hung Nô rồi đến Đột Quyết rồi lại hỗn tạp với Mông Cổ,Tacta để hình thành dân tộc Duy Ngô Nhĩ và các dân tộc ít người khác. Tộc Duy Ngô Nhĩ thuộc hệ ngữ ngôn Đột Quyết, có nguồn gốc giống với dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ , thực ra khá gần gũi với người da trắng. Phần lớn dân tộc thiểu số tụ cư tại miền nam, và phần đông theo đạo islam. Dân tộc thiểu số giỏi ca múa, mỗi khi vào dịp lễ hội islam già trẻ gái trai đều cuồng hoan hết sức. Ngưòi Duy Ngô Nhĩ hào sảng, nhiệt tình, hiếu khách, một khi đã kết bạn là mang hết rượu ngon thức nhắm tốt ra thết khách, khiến khách có cảm giác lầ khách nhưng như về nhà mình. Tuy vậy kiêng cấm nhiều, ngưòi ngoài tới nếu không am hiểu rất dễ bị trở mặt. Nữ giới cấm mặc quần áo hở hang, cấm đánh dắm(dù là kêu hay xịt). Không được ăn thịt lợn, lừa, chó.

Đàn ông Duy Ngô nhĩ nói chung đẹp trai, thân người cao lớn, mặt có góc cạnh, lộ rõ khí chất đàn ông. Phụ nữ có rất nhiều ngưòi đẹp mang đặc sắc Trung Á. Ngưòi Duy Ngô Nhĩ rất ít khi kết hôn với ngưòi Hán, tại vùng xa phía nam thế lực “Đông Đột”(một tổ chức chống đối) khá mạnh có mặt tại Đức, Mỹ, Australia, THổ Nhic Kỳ v.v.Những ngưòi Duy Ngô Nhĩ giầu có thưong kinh doanh cửa hàng ăn của dân tộc tại các thành phố lớn trong nội địa.

Do nghèo khổ nên kẻ trộm ngưòi Duy Ngô nhĩ có mặt tại hầu hết các thành phố lớn trong nuớc, vì sự doàn kết dân tộc chính quyền địa phưong không dám nghiêm trị, khién có kẻ không sợ dám cong khai trấn lột,ổtong tộc ngưòi Đông Hương, Duy Ngô Nhĩ có nhiều ngưòi buôn bán ma tuý, gần đây còn tham gia các trò lừa gạt, bán hàng giả. Người Hán ở Tân Cưong có lịch sử ngắn ngủi về cơ bàn là ngưòi trong các binh đoàn xây dựng tại đây sau khi phục viên đã ở lại và một số thanh niên lên núi xuống làng thời cách mạng văn hoá, và một số nông dân nghèo ngưòi Hà Nam, Hồ Bắc.. đến mưu sinh, nên chưa hình thành văn hoá địa vực rõ rệt, họ tập trung tại một số vùng như Urumqi, Shihezi, Karamay

Tính cách ngưòi các dân tộc Tân Cưong bộc trực, nhiệt tình, hiếu khách.

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2013

NỘI DUNG TRỌNG TÂM MÔN: KHOA HỌC QUẢN LÝ

PHẦN 1: QUẢN LÝ VÀ NHÀ QUẢN LÝ
Phần này làm gồm các nội dung cơ bản sau:
1. Quản lý
- Khái niệm và sự cần thiết của hoạt động quản lý
- Đặc trưng của quản lý
- Phân loại quản lý
- Những phương diện cơ bản của quản lý tổ chức: Phương diện tổ chức - kỹ thuật và kinh tế - xã hội
- Làm rõ quản lý là một khoa học, một nghệ thuật, một nghề
- Phân biệt quản lý, lãnh đạo, điều khiển và quản trị
- Vai trò của quản lý
2. Nhà quản lý
- Nhà quản lý và phân loại các nhà quản lý
- Vai trò nhà quản lý
- Đặc điểm công việc của nhà quản lý:
- Yêu cầu kỹ năng cần có của các nhà quản lý theo các cấp quản lý

3. Câu hỏi ôn tập và thảo luận:
- Quản lý là gì? Làm rõ bản chất của quản lý?
- Trình bày các cách phân loại quản lý và rút ra nhận xét, đánh giá
- Phân tích làm rõ quản lý là một khoa học, một nghệ thuật và một nghề ?
- Phân biệt khái niệm quản lý, quản trị, lãnh đạo và điều khiển?
- Phân tích vai trò của quản lý đối với sự phát triển của tổ chức
- Các nhà quản lý là ai? Họ làm gì? Có vai trò nào? Vai trò của các nhà quản lý đang thay đổi như thế nào?
- Yêu cầu kỹ năng đối với các nhà quản lý? Tầm quan trọng tương đối của các kỹ năng đối với các cấp quản lý?
- Yêu cầu về phẩm chất cá nhân đối với nhà quản lý?

4. Tài liệu tham khảo:
- Khoa Quản lý Kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I, Tập bài giảng Khoa học Quản lý, NXb CTQG, H 2012
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Khoa học quản lý, NXB CTQG, Hà nội, 2002.
- TS Đoàn Thị Thu Hà, TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Giáo trình khoa học quản lý (Tập I, Tập II), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, H, 2002
- PGS, TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền, PGS, TS Đoàn Thu Hà, TS Đỗ Thị Hải Hà, Giáo trình Quản lý học, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, H 2012
- Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weirich, Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nxb Khoa học và kỹ thuật, H 1992
- Nguyễn Thị Doan, Đỗ Minh Cương, Phương Kỳ Sơn, Các học thuyết quản lý, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1996.
- Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn, Bài giảng Khoa học quản lý đại cương, H, 2009; http://www.ebook.edu.vn
- PGS, TS Đỗ Văn Phức, Quản lý đại cương, NXB Khoa học kỹ thuật, H,2003
- H. Mintzberg. The Nature of Managerial Work, New York: Harper & Row. 1973


PHẦN 2: NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ
Phần này gồm những nội dung sau:
1. Nguyên tắc quản lý
a. Khái luận về nguyên tắc quản lý
- Các tiếp cận khác nhau về nguyên tắc quản lý
- Định nghĩa “Nguyên tắc quản lý”
- Đặc trưng chung của nguyên tắc quản lý
- Vai trò của nguyên tắc quản lý
b. Cơ sở hình thành các nguyên tắc quản lý
- Mục tiêu của hệ thống.
- Trạng thái (thực trạng) của hệ thống.
- Các ràng buộc của môi trường
- Tác động của các quy luật khách quan
c. Các nguyên tắc quản lý cơ bản:
+ Nguyên tắc tập trung dân chủ
+ Nguyên tắc kết hợp hài hòa các loại lợi ích.
+ Nguyên tắc sử dụng tổng hợp các phương pháp quản lý, kết hợp tốt phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế và phương pháp giáo dục, lấy phương pháp kinh tế làm trung tâm.
+ Nguyên tắc nắm bao quát, chú ý toàn diện, tập trung xử lý khâu yếu.
+ Nguyên tắc hiệu quả.
d. Vận dụng các nguyên tắc trong quản lý
+ Coi trọng việc hoàn thiện các nguyên tắc quản lý
+ Vận dụng tổng hợp các nguyên tắc quản lý.
+ Lựa chọn hình thức và phương pháp lựa chọn nguyên tắc.
2. Phương pháp quản lý
a. Tổng quan chung về phương pháp quản lý
- Khái niệm phương pháp quản lý
- Đặc trưng của phương pháp quản lý
- Phân loại phương pháp quản lý
- Yêu cầu của các phương pháp quản lý
b. Các phương pháp quản lý cơ bản tác động lên con người trong nội bộ hệ thống
- Phương pháp hành chính
- Phương pháp kinh tế
- Phương pháp tâm lý- giáo dục
c- Vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý

3. Câu hỏi ôn tập và thảo luận:
- Khái niệm nguyên tắc quản lý? đặc trưng chung và vai trò của nguyên tắc quản lý?
- Nguyên tắc quản lý là gì? Đề ra nguyên tắc quản lý phải dựa trên những cơ sở nào? Phân tích nội dung nguyên tắc kết hợp hài hoà các lợi ích trong quản lý.
- Nguyên tắc quản lý là gì? Đề ra nguyên tắc quản lý phải dựa trên những cơ sở nào? Phân tích nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý?
- Nguyên tắc quản lý là gì? Đề ra nguyên tắc quản lý phải dựa trên những cơ sở nào? Phân tích nội dung nguyên tắc hiệu quả trong quản lý?
- Nguyên tắc quản lý là gì? Đề ra nguyên tắc quản lý phải dựa trên những cơ sở nào? Phân tích nội dung nguyên tắc Nguyên tắc nắm bao quát, chú ý toàn diện, tập trung xử lý khâu yếu?
- Nguyên tắc quản lý là gì? Đề ra nguyên tắc quản lý phải dựa trên những cơ sở nào? Phân tích nội dung nguyên tắc sử dụng tổng hợp các phương pháp quản lý, kết hợp tốt phương pháp quản lý hành chính, phương pháp kinh tế và phương pháp giáo dục, lấy phương pháp kinh tế làm trung tâm?
- Làm rõ khái niệm, đặc trưng, phân loại và yêu cầu của phương pháp quản lý?
- Phương pháp hành chính trong quản lý là gì? Trình bày khái niệm, đặc điểm nội dung và yêu cầu khi vận dụng phương pháp hành chính trong quản lý?
- Phương pháp kinh tế là gì? Phân tích khái niệm, đặc điểm, nội dung của phương pháp kinh tế trong quản lý?
- Phương pháp tâm lý giáo dục trong quản lý là gì? Phân tích đặc điểm, nội dung của phương pháp tâm lý – giáo dục trong quản lý?
- Phương pháp quản lý là gì? Tại sao lại sử dụng tổng hợp các phương pháp quản lý.


4. Tài liệu tham khảo
- Khoa Quản lý Kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I, Tập bài giảng Khoa học Quản lý, NXb CTQG, H 2012
- Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weirich, Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nxb Khoa học và kỹ thuật, H 1992
- Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn, Bài giảng Khoa học quản lý đại cương, H, 2009; http://www.ebook.edu.vn

PHẦN 3: CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ
Phần này gồm các nội dung như sau:
1. Chức năng quản lý
a. Tổng quan về chức năng quản lý
- Khái niệm chức năng quản lý
- Ý nghĩa của chức năng quản lý
- Phân loại chức năng quản lý:
+ Theo phương hướng quản lý
+ Theo theo giai đoạn tác động
+ Theo sự phân cấp quản lý
+ Theo nội dung quản lý
b. Chức năng hoạch định
- Khái niệm hoạch định
- Tác dụng của hoạch định
- Nội dung của hoạch định
+ Định hướng hoạt động của hệ thống;
+ Dự đoán các biến động của môi trường;
+ ổn định hệ thống;
+ Đổi mới hệ thống;
d. Chức năng tổ chức:
- Khái niệm và vai trò của chức năng tổ chức:
+ Định nghĩa chức năng tổ chức
+ Vai trò của chức năng tổ chức
- Nội dung cơ bản của chức năng tổ chức:
+ Thiết kế mô hình cơ cấu tổ chức
+ Phân công công việc
+ Quyền hạn và giao quyền
e. Chức năng lãnh đạo
- Khái niệm lãnh đạo và chức năng lãnh đạo:
+ Khái niệm lãnh đạo
+ Khái niệm chức năng lãnh đạo
- Đặc trưng và vai trò của chức năng lãnh đạo:
+ Đặc trưng của chức năng lãnh đạo
+ Vai trò của chức năng lãnh đạo
- Nội dung và phương thức của chức năng lãnh đạo
+ Nội dung của chức năng lãnh đạo: i) Duy trì kỉ luật, kỉ cương đối với nhân viên; 2i) Hướng dẫn, thuyết phục và khích lệ/động viên nhân viên
+ Phương thức thực hiện chức năng lãnh đạo: Để thực hiện có hiệu quả những nội dung của chức năng lãnh đạo, nhà quản lý phải thực thi: i) các nguyên tắc quản lý; 2i) các phương pháp quản lý; 3i) lựa chọn một mô hình thức và phong cách quản lý phù hợp; 4i) biết động viên nhân viên.
- Những yêu cầu nhằm nâng cao hiệu quả chức năng lãnh đạo
+ Những yêu cầu để có nội dung tác động hiệu quả tới nhân viên
+ Những yêu cầu để có phương thức tác động hiệu quả
f. Chức năng kiểm tra
- Định nghĩa kiểm tra trong quản lý
- Đặc điểm và vai trò của kiểm tra trong quản lý
- Phân loại kiểm tra
- Quy trình kiểm tra
- Phương pháp kiểm tra
- Những yêu cầu đối với công tác kiểm tra
2. Cơ cấu tổ chức quản lý
a. Khái niệm cơ cấu tổ chức quản lý
b. Yêu cầu đối với cơ cấu tổ chức quản lý
- Tổ chức cần có tính tối ưu
- Tổ chức cần có tính linh hoạt
- Tổ chức cần có tính tin cậy
- Tổ chức cần có tính kinh tế
c. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức
d. Nguyên tắc cơ bản khi xác định cơ cấu tổ chức
- Nguyên tắc cơ cấu tổ chức quản lý phải gắn chặt với phương hướng và mục đích của hệ thống
- Nguyên tắc chuyên môn hoá
- Nguyên tắc thích nghi
- Nguyên tắc hiệu quả
e. Phương pháp phân chia bộ phận cấu tổ chức
- Phân chia bộ phận theo chức năng
- Phân chia bộ phận theo khu vực địa lý
- Phân chia bộ phận theo kết quả hoạt động của hệ thống
- Phân chia bộ phận theo “ma trận”
- Mối quan hệ giữa hoạt động điều phối và phân chia bộ phận
f. Một số kiểu cơ cấu tổ chức quản lý
- Cơ cấu tổ chức quản lý trực tuyến
- Cơ cấu tổ chức quản lý theo chức năng
- Cơ cấu quản lý trực tuyến - chức năng
g. Các phương pháp xây dựng cơ cấu tổ chức
- Phương pháp mô phỏng
- Phương pháp phân tích theo yếu tố

3. Câu hỏi ôn tập và thảo luận:
- Chức năng quản lý là gì? Ý nghĩa và phân loại của chức năng quản lý?
- Khái niệm hoạch định và vai trò của chức năng hoạch định? Phân tích nội dung chức năng hoạch định
- Khái niệm và vai trò của chức năng tổ chức? Phân tích cơ sở và nội dung của phân công công việc?
- Phân tích đặc trưng của một số mô hình cơ cấu tổ chức cơ bản
- Làm rõ khái niệm quyền hạn và giao quyền
- Phân tích đặc trưng của các nguyên tắc và nghệ thuật giao quyền
- Làm rõ khái niệm lãnh đạo và chức năng lãnh đạo
- Phân tích nội dung và phương thức của chức năng lãnh đạo
- Phân tích những yêu cầu nhằm nâng cao hiệu quả chức năng lãnh đạo
- Làm rõ khái niệm kiểm tra. Phân tích đặc điểm và vai trò của kiểm tra trong quản lý.
- Phân tích quy trình kiểm tra cơ bản và quy trình kiểm tra chi tiết
- Phân tích những yêu cầu đối với công tác kiểm tra
- Trình bày khái niệm và phân tích yêu cầu đối với cơ cấu tổ chức quản lý
- Cơ cấu tổ chức quản lý là gì? Xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý phải đảm bảo những yêu cầu gì?
- Cơ cấu tổ chức quản lý là gì? Phân tích các nguyên tắc cơ bản trong việc xây hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý?
- Cơ cấu tổ chức quản lý là gì? Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức quản lý?
- Khái niệm tổ chức và cơ cấu tổ chức? Trình bày nội dung cơ bản của cơ cấu tổ chức trực tuyến và điều kiện để vận dụng cơ cấu này? Vẽ sơ đồ minh hoạ.
- Trình bày nội dung cơ bản của cơ cấu tổ chức trực tuyến-chức năng và điều kiện để vận dụng cơ cấu này này? Vẽ sơ đồ minh hoạ.
- Trình bày phương pháp xây dựng cơ cấu tổ chức theo phương pháp phân tích yếu tố.

4. Tài liệu tham khảo
- Khoa Quản lý Kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I, Tập bài giảng Khoa học Quản lý, NXb CTQG, H 2012
- Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weirich, Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nxb Khoa học và kỹ thuật, H 1992
- Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn, Bài giảng Khoa học quản lý đại cương, H, 2009; http://www.ebook.edu.vn

PHẦN 4: THÔNG TIN VÀ QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ

Phần này bao gồm các nội dung cơ bản:
1. Thông tin quản lý
a. Những vấn đề chung về thông tin quản lý
- Khái niệm thông tin và thông tin quản lý
- Đặc trưng của thông tin trong quản lý:
- Vai trò của thông tin quản lý:
- Yêu cầu của thông tin quản lý:
- Những trở ngại của quá trình thông tin trong quản lý
+ Những trở ngại trong việc thu thập, xử lý và sử dụng thông tin cho việc xây dựng quyết định quản lý
+ Những trở ngại trong việc xử lý thông tin phản hồi
b. Hệ thống đảm bảo thông tin trong quản lý
- Khái niệm
- Cơ sở xây dựng hệ thống đảm bảo thông tin
- Những yếu tố tác động đến đảm bảo thông tin trong quản lý
- Nguyên tắc xây dựng hệ thống đảm bảo thông tin
- Yêu cầu của hệ thống đảm bảo thông tin quản lý

2. Quyết định quản lý
a. Những vấn đề chung về quyết định quản lý
- Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quyết định quản lý
- Các loại quyết định quản lý
- Các yêu cầu đối với quyết định quản lý
b. Quá trình ra quyết định quản lý
- Nguyên tắc ra quyết định quản lý
- Các bước ra quyết định quản lý
- Phương pháp ra quyết định quản lý
c. Quá trình tổ chức thực hiện quyết định quản lý
- Lập kế hoạch thực hiện quyết định
- Tuyên truyền và giải thích quyết định
- Thực hiện quyết định
- Kiểm tra việc thực hiện quyết định
- Điều chỉnh quyết định
- Tổng kết thực hiện quyết định

3. Câu hỏi ôn tập và thảo luận:
- Khái niệm, vai trò, phân loại thông tin trong quản lý?
- Thông tin quản lý là gì? Đặc trưng của thông tin trong quản lý? Nêu những yêu cầu chủ yếu đảm bảo thông tin trong quản lý?
- Những trở ngại của quá trình thông tin trong quản lý
- Khái niệm, yêu cầu của hệ thống đảm bảo thông tin quản lý?
- Trình bày nội dung các công đoạn chủ yếu trong hoạt động đảm bảo thông tin trong quản lý. Phân tích những yếu tố chi phối chất lượng và hiệu quả thông tin quản lý trong từng công đoạn.
- Quyết định quản lý là gì? Yêu cầu đối với các quyết định? Tại sao nói quyết định quản lý là sản phẩm lao động của người quản lý và là sản phẩm đặc biệt
- Quyết định quản lý là gì? Phân loại quyết định quản lý và mục đích của việc phân loại đó?
- Quyết định quản lý là gì? Trình bày nội dung các bước trong quy trình ra quyết định quản lý. Cho một ví dụ thể hiện các bước trong quy trình ra quyết định này.
- Quyết định quản lý là gì? Trình bày nội dung các bước trong tổ chức thực hiện quyết định quản lý. Cho một ví dụ thể hiện các bước trong quy trình này
- Quyết định quản lý là gì? Phân tích ý nghĩa, đặc điểm của quyết định quản lý và những yêu cầu đối với một quyết định quản lý? cho ví dụ minh hoạ.
-
4. Tài liệu tham khảo
- Khoa Quản lý Kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I, Tập bài giảng Khoa học Quản lý, NXb CTQG, H 2012
- Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weirich, Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nxb Khoa học và kỹ thuật, H 1992
- Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn, Bài giảng Khoa học quản lý đại cương, H, 2009; http://www.ebook.edu.vn

PHẦN 5: LAO ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO

Phần này gồm những nội dung cơ bản sau:
1. Lao động quản lý
- Khái niệm lao động quản lý
- Đặc điểm của lao động quản lý
- Phân loại lao động quản lý
2. Người lãnh đạo
- Khái niệm, vị trí, vai trò người lãnh đạo
- Đặc điểm lao động của người lãnh đạo
- Các yêu cầu đối với người lãnh đạo
- Phong cách lãnh đạo
- Tổ chức khoa học lao động của người lãnh đạo
- Uỷ quyền trong quản lý
- Uy tín của người lãnh đạo

3. Câu hỏi ôn tập và thảo luận:
- Khái niệm, đặc điểm và phân loại lao động quản lý
- Phân tích đặc điểm, vai trò và đặc điểm lao động của người lãnh đạo. Để nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, người lãnh đạo quản lý phải được xây dựng theo những tiêu chuẩn nào?
- Thế nào là người lãnh đạo quản lý? Nội dung các tiêu chuẩn cần có để nâng cao năng lực hoạt động của người lãnh đạo?

4. Tài liệu tham khảo:
- Khoa Quản lý Kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I, Tập bài giảng Khoa học Quản lý, NXb CTQG, H 2012
- Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weirich, Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nxb Khoa học và kỹ thuật, H 1992
- Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn, Bài giảng Khoa học quản lý đại cương, H, 2009; http://www.ebook.edu.vn

Chọn hướng kê bàn làm việc năm 2013

Chọn hướng kê bàn làm việc năm 2013
Năm nay, những người sinh năm 1988 nên ngồi làm việc theo hướng Bắc và Nam để gặp nhiều may mắn và thu hút tài lộc.
Trong năm nay, người Đông tứ mệnh nên chọn hướng Bắc và Nam, tránh hướng Đông và Đông Nam nếu có thể. Trong khi người Tây tứ mệnh nên chọn hướng Đông Bắc và Tây Bắc, tránh hướng Tây Nam và Tây.

Đông Bắc được coi là hướng tốt nhất trong năm nay, khi ngôi sao may mắn Bát Bạch (#8) viếng thăm. Tiếp theo là hướng Bắc, với sự xuất hiện của sao chiến thắng Nhất Bạch (#1). Hướng Tây Bắc cũng mang lại may mắn với ngôi sao Thiên vận Lục Bạch (#6). Tiếp theo là hướng Nam với ngôi sao Cửu Tử (#9) Thịnh vượng trong tương lai.

Phong thủy cho rằng, cách tốt nhất để gia tăng vận may là chọn hướng tốt để kê bàn làm việc, kê giường ngủ, chọn vị trí ngồi khi làm những việc quan trọng. Những cố gắng này giúp gia tăng thời lượng đón nhận khí tốt từ vũ trụ và môi trường xung quanh.

Dựa vào năm sinh âm lịch và giới tính, có thể tính được quái số của mỗi người, từ đó biết được 4 hướng tốt nên chọn: Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên và Phục Vị, trong đó Sinh Khí được coi là hướng tốt nhất.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là khi nào bạn cũng có thể coi Sinh khí là lựa chọn tốt nhất. Đó là do ngoài yếu tố không gian, Phong thủy còn chịu tác động của yếu tố thời gian (tùy theo sự di chuyển của các Phi tinh). Nếu hướng Sinh Khí của bạn chịu tác động xấu của Cửu Tinh (các sao Ngũ Hoàng, Nhị Hắc, Tam Bích và Thất Xích) hoặc Thần Sát (Thái Tuế, Tam Sát, Tuế Phá) của năm thì sử dụng hướng này chẳng những không mang lại may mắn mà còn có thể mang đến tai họa.

Nói cách khác, sự tốt của mỗi hướng chỉ mang tính tương đối, chúng không cố định mà luôn thay đổi cùng năm tháng. Hơn nữa, người ta cho rằng các Phi tinh (yếu tố thời gian) ảnh hưởng tới sự tốt xấu của mỗi hướng nhiều hơn so với cách tính hướng theo quái số. Vì vậy, khi chuẩn bị bước sang năm mới, người ta phải xem xét lại việc chọn hướng kê bàn, kê giường…cho cả năm tiếp theo (năm ở đây được tính từ ngày 4/2 dương lịch của năm nay tới 3/2 dương lịch của năm sau). Những hướng tốt theo quái số nhưng phạm vào đại kỵ của năm đều không được coi là hướng tốt và nên tránh.

Cần lưu ý rằng hướng xấu tính theo quái số luôn là hướng xấu của bạn, kể cả nếu theo Phi tinh của năm đó là hướng tốt.

Bảng tra cứu quái số theo năm sinh
http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2013/02/chon-huong-ke-ban-lam-viec-nam-2013/


Chọn hướng tốt theo quái số

http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2013/02/chon-huong-ke-ban-lam-viec-nam-2013/

Chú ý: Nam có quái số 5 chọn hướng như người có quái số 2, nữ có quái số 5 chọn hướng như người có quái số 8.

Giải nghĩa từ:

- Sinh khí: Thu hút tài lộc, danh tiếng, thăng quan phát tài.

- Thiên y: Cải thiện sức khỏe, trường thọ.

- Diên niên: Củng cố các mối quan hệ trong gia đình, tình yêu.

- Phục vị: Củng cố sức mạnh tinh thần, mang lại tiến bộ của bản thân, may mắn trong thi cử.

Theo Ngôi sao

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013

Một số links số liệu quan trọng

Một số links số liệu quan trọng

Tổng cục Thống kê: Đây là nguồn quan trọng nhất cho các bạn sinh viên, ngoài các thông số kinh tế hàng tháng (chọn tháng trên dropdown menu có thể lấy được rất nhiều số liệu từ năm 2004) các bạn có thể xem số liệu năm trong mục "Số liệu thống kê" và số liệu của các cuộc điều tra kinh tế xã hội lớn (mục "Các cuộc điều tra").

Ngân hàng Nhà nước: Ngoài những chỉ số chính sách tiền tệ căn bản như các loại lãi suất chính sách và tỷ giá bình quân liên ngân hàng (reference rate), mục "Thị trường tiền tệ" có các thống kê về VNBOR, hoạt động thị trường mở và đấu thầu trái phiếu chính phủ. Một địa chỉ nữa cho các bạn quan tâm đến tài chính, tiền tệ là Bảo hiểm Tiền gửi Việt nam, mặc dù hiện tại chưa có nhiều số liệu.

Bộ Tài chính: Mục "Ngân sách nhà nước" có thống kê về ngân sách, chi thu của VN, ngoài ra còn có thông tin về các dự án ODA và đặc biệt là Bản tin nợ nước ngoài rất hữu ích. Số liệu về ngân sách nhà nước cũng có thể tra cứu trên website của Chinh phủ.

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội: Mục Dữ liệu của bộ này có rất nhiều thông tin, chủ yếu kết quả của các cuộc khảo sát xã hội, rất có ích cho những bạn quan tâm đến labor market và các vấn đề xã hội. Đa số dữ liệu được cung câp dưới dạng bảng Excel khá tiện dụng.

Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn: Mặc dù một số trang trên website của bộ này bị lỗi và còn nhiều tài liệu không dùng Unicode, mục Thống kê - Dự báo có rất nhiều thông tin quan trọng. Tôi tìm thấy thống kê về khí tượng thủy văn của VN ở đây chứ không phải trên website của Bộ Tài nguyên Môi trường.

Bộ Công Thương: Mục Thống kê của bộ này rất tốt, số liệu xuất nhập khẩu khá chi tiết (các bạn có thể update bảng số liệu REER/NEER mà tôi cung cấp trước đây bằng số liệu xuất nhập khẩu từ trang web này). Phần thông tin về vốn đầu tư cũng khá chi tiết.

[Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ là những bộ tôi rất thất vọng vì không có các cơ sở dữ liệu/thống kê chuyên ngành đáng ra phải có.]

IMF: Như đã nói bên trên, IMF có một số database rất quan trọng về kinh tế vĩ mô, theo tôi được biết họ cung cấp miễn phí cho các nước đang phát triển nên các bạn ở VN có thể truy cập được. Những database quan trọng là WEO, IFS, DOTS, BOPS, GFS. Ngoài ra trong chuyên mục Vietnam and the IMF cũng có rất nhiều thông tin. Khi còn là sinh viên và không có truy cập vào IFS tôi thường xuyên vào chuyên mục này lấy số liệu của VN từ các Staff Report và Statistical Appendixes do văn phòng IMF Vietnam công bố hàng năm. Trong chuyên mục này cũng có rất nhiều bài nghiên cứu quan trọng về VN của các chuyên gia IMF. Năm ngoái có một bài về Output gap của VN sử dụng Bayesian estimation những bạn quan tam về vấn đề này nên tham khảo. IMF website là nguồn số liệu tất cả sinh viên kinh tế bắt buộc phải biết.

WB: Cách đây mấy năm WB đã cho access miễn phí vào tất cả các database của họ (thời tôi đi học chỉ được access vào World Development Indicators). Số liệu của WB rất rộng và họ bắt đầu có các chuỗi số liệu theo quí (trước đây chỉ có số liệu theo năm). Đây cũng là nguồn số liệu bắt buộc cho sinh viên kinh tế.

ADB: Số liệu của tổ chức này rất tốt, tiếc là cũng chỉ có annual data như WB. Chuyên mục Key Indicators có rất nhiều bảng Excel số liệu được update hàng năm (và có lẽ là data source duy nhất lưu trữ theo vintage, nghĩa là các version khác nhau hàng năm).

UNDP: Tổ chức này có một database quan trọng liên quan đến chỉ số Human Development Indicator được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu kinh tế.

UNCTADSTAT: Database của Unctad, một tổ chức thuộc UN tương tự như UNDP, chuyên về trade data. Số liệu ngoại thương ở database này (cho VN) tương đương như của Bộ Công thương và DOTS của IMF tôi trích dẫn bên trên.

BIS: Mặc dù không có nhiều số liệu về VN, đây là địa chỉ quan trọng cho những bạn quan tâm đến số liệu banking and finance quốc tế.

OECD: database này chủ yếu phục vụ cho các thành viên của OECD nhưng có rất nhiều chỉ số quốc tế (một số phải trả tiền).

FRED (của Fed St Louis): Trong số các website của các ngân hàng trung ương, đây là database lớn nhất và uy tín nhất với gần như toàn bộ số liệu macro của Mỹ, có những chuỗi dài gần 100 năm. Database này cũng có số liệu của một số nước phát triển khác. Ngoài ra Fed còn có một số data tại địa chỉ này và hầu hết các chi nhánh Fed khác cũng cung cấp dữ liệu (NY, Kansas, San Francisco, Chicago, Cleveland).

Các central banks lớn khác như ECB, BoE, BoJ, RBA, tuy nhiên số liệu chủ yếu cho các nước của họ.

Pen World Table: một nguồn số liệu về national account tính theo PPP cho gần như tất cả các nước. Đây là một database lâu đời và rất uy tín trong giới học thuật tuy nhiên số liệu update chậm hơn so với nguồn WB và IMF.

The World Top Income Database: số liệu về VN đang được thu thập, hi vọng sẽ có sớm.

Economagic.com: số liệu của Mỹ và một số của Úc, ECB, BoJ




Một số nguồn dữ liệu tài chính

Damodaran: GS Aswarth Damodaran (NYU) cung cấp một database rất lớn về số liệu của các công ty đại chúng (US and non-US, trong đó có một số công ty VN). Website này còn cung cấp một số spreadsheet tính toán liên quan đến valuation rất hữu ích cho các bạn sinh viên tài chính.

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2013


Lời bài hát: Mùa Xuân Đầu Tiên (Văn Cao)

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường mùa vui nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
Một trưa nắng thu cho bao tâm hồn.

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Người mẹ nhìn đàn con nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh
Niềm vui phút giây như đang long lanh.

Ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.
Ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.
Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người.

Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.
Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
Một trưa nắng thu hôm nay mênh mông.

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG KHOA HỌC QUẢN LÝ

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ

Quản lý là một tất yếu khách quan
 Con người ngay từ buổi bình minh của lịch sử nhân loại do tập tính vốn có của sinh vật (động vật có cảm giác) con người (động vật có ý thức về mình và người khác):

• Tập tính vồ mồi – để được sống
• Tập tính cần sống chung - để có thể sống an toàn
• Tập tính con đầu đàn - quyền lực, cạnh tranh, phân cấp
• Tập tính bắt chước - học hỏi, tiếp thu
• Tập tính có khả năng tư duy (tự do, sáng tạo)
• Tập tính muốn hiểu biết và mở rộng môi trường sống (đối ngoại, giao tiếp)

 Con người đã biết quy tụ nhau lại thành bầy, nhóm để tồn tại với hai mục tiêu:
• Bảo đảm được sống trong môi trường (kiếm được cái ăn, chống trả sự tấn công của thú dữ, thiên tai, bầy nhóm khác)
• Phát triển (để kiếm sống tốt hơn, có môi trường sống lớn hơn)

• Trong quá trình sống chung với nhau, con người có thói quen luôn chú ý đến những người đồng loại và môi trường xung quanh=> đặc điểm của con người:

 Biết tự điều khiển lấy mình => thuộc tính: con người cần cuộc sống có bè bạn, có cộng đồng
 Có khả năng phát triển ý thức trách nhiệm của mình đối với người khác => thuộc tính con người cần cuộc sống tự do, sáng tạo, có quyền lực để chi phối tác động đến người khác.

• Từ hai đặc điểm + hai thuộc tính + sự phát triển lực lượng sản xuất => xuất hiện nhóm với tư cách tổ chức xã hội là một tất yếu.

• => Tổ chức là sự liên kết các con người với các phương tiện cùng hoạt động theo một định hướng với mục tiêu xác định dựa trên các nguyên tắc và quy tắc nhất định.


 Các tổ chức tuy rất khác nhau về mục đích tồn tại và phương thức hoạt động nhưng đều mang những đặc điểm chung cơ bản sau đây:

 Tổ chức phải bao gồm nhiều người và do đó phải có các liên kết, phối hợp những con người trong tổ chức đó là=> tổ chức phải có những người có ý chí và có khả năng chi phối các người khác với tư cách là thủ lĩnh (vai trò là chủ thể quản lý)

 Tổ chức bao giờ cũng có định hướng và mục tiêu nhất định do chủ thể đưa ra, hướng vào đáp ứng các tập tính của con người: đảm bảo cuộc sống cho con người và gia định họ; chấp nhận sự phát triển chênh lệch giữa các cá nhân trong tổ chức, nhưng không thể duy trì bất bình đẳng; phải tạo cho mọi người trong tổ chức cơ hội phát triển; cho con người có điều kiện tự do, tư duy, sáng tạo. Những người trong tổ chức và các nguồn lực khác chịu sự tác động của chủ thể quản lý là đối tượng bị quản lý.

 Tổ chức bao giờ cũng có mối quan hệ tương đương với các tổ chức khác (khách thể quản lý) mối tương tác này được gọi là môi trường của tổ chức

 Tổ chức phải có những phương tiện làm việc nhất định với tư cách là các công cụ phải có để hoạt động;

 Việc thực hiện nhiệm vụ liên kết, phối hợp các thành viên trong tổ chức và gắn với mối trường để đạt được định hướng, mục tiêu của tổ chức chính là hoạt động quản lý.



 => Hoạt động quản lý không những phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành tập thể, mà còn cần thiết <=> Nếu không có những hoạt động đó, mọi người trong tập thể sẽ không biết ai phải làm gì, làm vào lúc nào. Hoặc sẽ làm một cách lộn xộn.

 => Quản lý như vậy là một hoạt động tất yếu của tổ chức, mà tổ chức là một hiện tượng xã hội trong tiến trình phát triển của lịch sử và nó chịu sự tác động của tiến trình lịch sử.

 Khi con người hợp tác với nhau trong tập thể để cùng nhau làm việc, người ta có thể tự phát làm những việc cần làm, theo cách suy nghĩ riêng của mỗi người => Lối làm việc chung như thế cũng có thể đạt kết quả, hoặc cũng có thể không => Nhưng nếu biết tổ chức hoạt động, thì triển vọng đạt kết quả sẽ chắc chắn hơn. Không những vậy, sẽ còn ít tốn kém NVL, tiền bạc, thời gian hơn.

 => Khi so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí đã tốn kém, ta có khái niệm hiệu quả. Tỷ số (tỷ suất) này càng lớn, chỉ tiêu hiệu quả càng cao.

 Không biết cách quản lý thì cũng có thể đạt kết quả như tổ chức kinh tế khác, nhưng chí phí lại cao hơn. Hoặc chi phí như vậy nhưng kết quả thấp hơn. Tức là hiệu quả kinh tế cả hai trường hợp đều thấp hơn khi so sánh giữa các tổ chức khác nhau.

 Lý do tồn tại của hoạt động quản lý chính là vì muốn có hiệu quả => Và chỉ khi nào quan tâm đến hiệu quả, thì người ta mới quan tâm đến hoạt động quản lý.

Một số định nghĩa về quản lý
 Thuật ngữ "quản lý" tiếng Anh là management có nghĩa là sự quản lý.

 Có tác giả quan niệm: trong thực tiễn thuật ngữ "quản lý" có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau:
 "Quản" là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định;
 "Lý" là sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế phát triển.

 Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó.

 Quản lý là một hoạt động thiết yếu nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực các nhân nhằm đạt được các mục đích, mục tiêu của tổ chức. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất (Harol Koontz - Những vấn đề cốt yếu của quản lý. NXB khoa học - Kỹ thuật, Hà Nội 1993).

 Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác (Harol Koontz - Những vấn đề cốt yếu của quản lý. NXB khoa học - Kỹ thuật, 1993).

 Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý để tạo ra một sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống nhằm đạt mục đích nhất định (tập thể tác giả Học viện Chính trị quốc gia, 1976).

 Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra (Nguyễn Minh Đạo - Cơ sở khoa học quản lý, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997).

 Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức (Giáo trình Khoa học quản lý, tập I, Trường ĐH Kinh tế quốc dân, Nxb KH&KT, Hà Nội 2001).

 Theo định nghĩa của các tác giả trong tác phẩm: “Khoa học tổ chức và quản lý - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” - Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý - NXB Thống Kê - Hà Nội - 1999 thì quản lý là “một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung”.

 Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động".

 Một nhóm các nhà khoa học quản lý nước ngoài thì cho rằng: “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm, có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định".

 “Quản lý là : phải biết đào tạo, bồi dưỡng, chia sẻ trách nhiệm, quyền hạn và phải biết ủy quyền”.(Lê Hùng Lâm-Khái niệm, định nghĩa, chức năng chính của quản lý-1997).

 Theo quan điểm hoạt động của một tổ chức: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến”. (Nguyễn Ngọc Quang-Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục - Trường CBQL TW- 1989).

 “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. (Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn thị Mỹ Lộc - Những cơ sở khoa học về quản lý giáo dục - Trường CBQL-Hà Nội 1997).
 Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:

 Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm" .

 Fayol: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”.

 Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích".

 => Có thể kể ra nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa quản lý, trên đây chỉ là một vài ý kiến mang tính đại diện trên cơ sở phân tích tổng hợp những quan điểm không giống nhau.

 => Có thể hiểu, quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý và đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành (hoạt động) có hiệu quả

• Với định nghĩa trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:

 Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp từ chủ thể quản lý. Tác động có thể liên tục nhiều lần.

 Muốn quản lý thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể, đối tượng và khách thể quản lý. Điều này đòi hỏi phải biết định hướng đúng.

 Chủ thể quản lý phải thực hành việc tác động và phải biết tác động. Vì thế chủ thể phải hiểu đối tượng và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả.

 Chủ thể có thể là một người, một nhóm người; còn đối tượng có thể là con người (một hoặc nhiều người), giới vô sinh hoặc giới sinh vật.

 Chủ thể quản lý có những đặc trưng cơ bản:

• Chủ thể quản lý là nhân tố tạo ra các tác động quản lý.

 Các tác động quản lý tồn tại ở nhiều hình thức và cấp độ khác nhau. Nó có thể là mục tiêu, nội dung, phương thức quản lý; cũng có thể là các nguyên tắc, phương pháp, phong cách và nghệ thuật quản lý. Hay ở một bình diện khác là các quyết định quản lý.
 Hiệu quả quản lý của các tổ chức tuỳ thuộc phần lớn vào chất lượng của các tác động quản lý đó.
 Việc tạo ra các tác động quản lý lại tuỳ thuộc vào điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan.
 Cách thức tạo lập các tác động quản lý quy định tính chất và các mô thức quản lý xác định.

• Chủ thể quản lý có một quyền lực nhất định.
 Quyền lực là sức mạnh được thừa nhận. Nó là công cụ và phương tiện không thể thiếu của chủ thể quản lý. Nhờ có quyền lực, chủ thể quản lý mới tạo ra được các tác động quản lý để điều khiển và điều chỉnh hành vi của thuộc cấp.
 Tuy nhiên, việc sử dụng quyền lực như thế nào là một vấn đề quan trọng, có vai trò quyết định tới việc hình thành văn hoá quản lý và do đó ảnh hưởng tới hiệu quả của quản lý.

 Chủ thể quản lý tồn tại ở nhiều quy mô và tầng nấc khác nhau.

 Chủ thể quản lý có thể là một người, một nhóm người hoặc là một tổ chức và tồn tại ở các tầng nấc khác nhau. Với các tổ chức nhỏ, chủ thể quản lý có thể là một người; với tổ chức lớn chủ thể quản lý có thể là một nhóm người; với một quốc gia, khu vực.v.v. chủ thể quản lý là một tổ chức người. Chủ thể quản lý tồn tại dưới các cấp độ: cấp cao, cấp trung, cấp thấp.

 Các hình thức và cấp độ tồn tại của chủ thể quản lý được biểu hiện ở các tuyến quyền lực (ngang - dọc, trên - dưới) và có quan hệ tác động lẫn nhau từ đó tạo nên tính phức tạp của cơ chế quản lý. Việc thiết lập các mối quan hệ quyền lực và phối hợp hoạt động giữa chúng một cách hợp lý là tạo ra cơ chế quản lý khoa học và là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hiệu qủa hoạt động của các tổ chức.

 Chủ thể quản lý phải có những năng lực và phẩm chất nhất định.

 Chủ thể quản lý có thể được phân thành ba cấp độ cơ bản (quản lý cấp cao, cấp trung và cấp thấp) song dù ở cấp nào, chủ thể quản lý cũng cần phải có những năng lực và phẩm chất cơ bản.

 Năng lực chuyên môn: Đó là những tri thức cơ bản về chuyên môn liên quan tới lĩnh vực mà người quản lý phụ trách.

 Năng lực làm việc với con người: Đó là khả năng tập hợp, quy tụ nhân lực, biết bố trí, sắp xếp và sử dụng con người hợp với khả năng của họ và thừa nhận những giá trị khác biệt.

 Năng lực tư duy, bản lĩnh và phương pháp tổ chức công việc khoa học: Đó là khả năng nhìn xa, trông rộng, hay có tầm nhìn chiến lược và hiện thực hoá nó trong thực tiễn. Chủ thể quản lý phải có tính quyết đoán, dám chịu trách nhiệm.

 Những nhóm năng lực và phẩm chất trên không phải do bẩm sinh mà chỉ có thể được hình thành thông qua quá trình học tập, nghiên cứu và trải nghiệm trong thực tiễn. Vì vậy, trong quá trình đào tạo để có được các nhà quản lý vừa có tâm, vừa có tầm thì phải lưu ý tới các lĩnh vực tri thức khoa học phù hợp và phải chú trọng tới vai trò của thực tiễn quản lý.

• Chủ thể quản lý có lợi ích xác định.
 Lợi ích của chủ thể quản lý có thể thống nhất hoặc đối lập với lợi ích của đối tượng quản lý. Điều đó tuỳ thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.

 Song, tính chất của quan hệ lợi ích đóng vai trò quyết định tới tính chất của hoạt động quản lý và hiệu quả của nó.

 Thực tiễn quản lý đã chứng minh rằng, khi lợi ích của chủ thể đối lập với lợi ích của đối tượng thì hoạt động quản lý bị “biến dạng” thành hoạt động cai trị hoặc thống trị. Khi lợi ích của chủ thể thống nhất với lợi ích của đối tượng thì hoạt động quản lý mới được biểu hiện theo đúng nghĩa của nó.

 Tuy nhiên, để có sự thống nhất về lợi ích giữa chủ thể và đối tượng thì phải trải qua một quá trình vận động, biến đổi và phát triển lâu dài của xã hội.

• Đối tượng quản lý có những đặc trưng cơ bản sau:

 Là bên tiếp nhận những tác động quản lý

 Có khả năng tự điều chỉnh hành vi của mình.

 Có thể là một cá nhân, một nhóm, một cộng đồng hay một quốc gia...

 Có quy mô khác nhau

 Việc phân biệt khách thể quản lý và chủ thể quản lý mang tính tương đối. Khách thể quản lý có thể trở thành chủ thể quản lý trong quan hệ quản lý khác.

 Khách thể quản lý có nhu cầu và lợi ích nhất định.

 Tóm lại: Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt được mục tiêu chung.
 Quá trình tác động này có thể được thể hiện bằng sơ đồ:

• Từ các định nghĩa về quản lý chúng ta có thể nêu những nét đặc trưng phản ánh bản chất của quản lý:
– Quản lý là hoạt động có mục đích của con người;

– Quản lý là sự sắp xếp và thể hịên hợp lý các tác động có mục đích;

– Quản lý là sự lựa chọn và quyết định các phương án tối ưu;

– Quản lý là giảm tính bất định và tăng tính tổ chức của hệ thống (trong thực tiễn, hoạt động tổ chức là nét đặc trưng nhất của quản lý).




Phân loại quản lý
 Quản lý tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau, điều đó tuỳ thuộc vào căn cứ phân loại (7 tiêu chí):

 Căn cứ vào quy mô tổ chức, quản lý được phân chia thành (2)
 Quản lý vi mô: quản lý một tổ chức nhỏ, đơn chức năng, đơn mục tiêu
 Quản lý vĩ mô: quản lý một tổ chức lớn, đa chức năng, đa mục tiêu
 => Sự phân chia này chỉ mang tính tương đối bởi vì trong những quan hệ xác định mà một tổ chức có thể là vi mô, có thể là vĩ mô.

 Căn cứ vào đối tượng, quản lý được phân chia thành (3 dạng)
 Quản lí giới tự nhiên: Quản lý giới tự nhiên thường được hiểu theo nghĩa là chăm sóc, trông coi và bảo vệ.v.v.
 Quản lí hệ thống vật tư, kĩ thuật: Quản lý vật tư, kĩ thuật thường được hiểu theo nghĩa là bảo quản, bảo dưỡng, điều khiển.v.v.
 Quản lí con người - xã hội: Quản lý con người- xã hội được hiểu theo nghĩa là tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
 Tuy nhiên, sự phân chia theo căn cứ này cũng mang tính tương đối bởi vì các hệ thống tự nhiên, vật tư, kĩ thuật, công nghệ và con người - xã hội chỉ tồn tại một cách độc lập tương đối, trong thực tế chúng có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Hơn nữa, khi nói tới quản lý, như đã trình bày, xét đến cùng là quản lý hành vi và hoạt động của con người. Về bản chất quản lý là biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với con người.
 Căn cứ vào các lĩnh vực hoạt động của xã hội, quản lý được chia thành:
 Quản lý kinh tế
 Quản lý hành chính
 Quản lý văn hoá
 Quản lý xã hội.v.v.
 => Sự phân chia này là xét ở cấp độ chung của từng lĩnh vực. Bởi vì, ở từng lĩnh vực hoạt động của con người lại có thể được phân chia thành những cấp độ cụ thể, với những loại hình quản lý chuyên ngành.

 Căn cứ vào các hiện tượng, các quá trình xã hội như là những "hệ thống động", quản lý được chia thành:
 Quản lý biến đổi
 Quản lý rủi ro
 Quản lý khủng hoảng.v.v.
 => Những loại hình quản lý này là biểu hiện của xu hướng tiếp cận hiện đại về quản lý vì chúng có thể bao chứa các loại hình quản lý khác nhau hoặc nhóm gộp một số loại hình quản lý lại với nhau.

 Căn cứ vào chỉnh thể tổ chức hoặc các yếu tố cấu thành tổ chức, có thể phân chia quản lý thành:
 Quản lý tổ chức (Toàn bộ chỉnh thể của một tổ chức)
 Quản lý các yếu tố của tổ chức (Quản lý mục tiêu; Quản lý cơ cấu tổ chức; Quản lý nguồn nhân lực; Quản lý chính sách; Quản lý hệ thống thông tin; Quản lý văn hoá tổ chức)
 Căn cứ vào tính chất của hoạt động quản lý, có thể chia quản lý thành các loại:
 Quản lý chất lượng
 Quản lý chỉnh thể
 Quản lý đổi mới
 Quản lý hài hoà.v.v.

 Căn cứ vào chủ thể của hoạt động quản lý, có thể phân chia quản lý thành:
 Quản lý cá nhân
 Quản lý nhà nước
 Quản lý hành chính nhà nước
 Quản lý xã hội.v.v.
 => Các hình thức quản lý này biểu hiện vai trò của các chủ thể trong các loại hình quản lý khác nhau. Chúng có thể giống nhau về mục tiêu quản lý, nhưng có sự khác biệt về phương thức quản lý.

 => Qua sự phân loại trên, cho thấy quản lý là một lĩnh vực hoạt động chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng, phong phú và tồn tại ở nhiều cấp độ, nhiều hình thức khác nhau. Vì thế, qua việc phân loại về quản lý sẽ giúp cho nhận thức về quản lý một cách đầy đủ và toàn diện hơn. Tuy nhiên, quản lý tồn tại dưới bất cứ loại hình nào thì xét đến cùng bản chất của nó là biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với con người.

Những phương diện cơ bản của quản lý
 Quản lý tổ chức thường được xem xét trên hai phương diện cơ bản: tổ chức - kỹ thuật và kinh tế - xã hội:

 Phương diện tổ chức - kỹ thuật của quản lý tổ chức. Phương diện này của quản lý tổ chức giúp chúng ta trả lời các câu hỏi (4):
• Thứ nhất, làm quản lý là làm gì?Cho dù là người đứng đầu một Chính phủ, một công ty, một vụ, một viện, một bộ phận bên trong tổ chức, nhà quản lý đều thực hiện những quá trình quản lý bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra, trong đó:
– Lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu và những phương thức hành động thích hợp để đạt mục tiêu.
– Tổ chức là quá trình xây dựng và bảo đảm những hình thái cơ cấu nhất định để đạt mục tiêu.
– Lãnh đạo là quá trình chỉ đạo và thúc đẩy các thành viên làm việc một cách tốt nhất vì lợi ích của tổ chức.

• Thứ hai, đối tượng chủ yếu của quản lý là gì?.
– Đối tượng chủ yếu và trực tiếp của quản lý là những mối quan hệ con người bên trong và bên ngoài tổ chức.
– Chủ thể quản lý tác động lên con người, thông qua đó mà tác động đến các yếu tố vật chất và phi vật chất khác như vốn, vật tư, máy móc, thiết bị, công nghệ, thông tin để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hoạt động.

• => Như vậy, xét về thực chất, quản lý tổ chức là quản lý con người, biến sức mạnh của nhiều người thành sức mạnh chung của tổ chức để đi tới mục tiêu.

• Với đối tượng là những mối quan hệ con người, quản lý tổ chức chính là dạng quản lý phức tạp nhất.
• Thứ ba, quản lý được tiến hành khi nào?
 Trong mối quan hệ với thời gian, quản lý là tập trung những cố gắng tạo dựng tương lai mong muốn trên cơ sở của quá khứ và hiện tại.
 Quản lý luôn phản ánh đặc điểm của mỗi giai đoạn lịch sử.
 Đồng thời, quản lý là những hành động có thể gây ảnh hưởng to lớn và lâu dài đối với tổ chức.

• Thứ tư, mục đích của quản lý tổ chức là gì?
 Trong mọi loại hình tổ chức, mục đích hợp lý được tuyên bố công khai của quản lý đều là tạo ra giá trị gia tăng cho tổ chức và các thành viên của nó.
 Nhà quản lý cần tạo dựng được một môi trường mà trong đó mỗi người có thể thực hiện được các mục đích theo nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự không thoả mãn cá nhân ít nhất, hoặc ở đó họ có thể đạt được mục đích ở mức cao nhất với các nguồn lực sẵn có.

 => Phương diện tổ chức - kỹ thuật của quản lý cho thấy có nhiều điểm tương đồng trong hoạt động quản lý ở mọi tổ chức và đối với mọi nhà quản lý. Chính điều này cho phép chúng ta coi quản lý tổ chức là lĩnh vực mang tính khoa học cao và có thể học tập để trở thành nhà quản lý.

• Phương diện kinh tế - xã hội của quản lý. Xét trên phương diện kinh tế - xã hội, quản lý tổ chức phải trả lời các câu hỏi:

• Tổ chức được thành lập và hoạt động vì mục đích gì?
• Ai nắm quyền lãnh đạo và điều hành tổ chức?
• Ai là đối tượng và khách thể quản lý?
• Giá trị gia tăng nhờ hoạt động quản lý thuộc về ai?

• Các tổ chức được những thể nhân, pháp nhân, lực lượng khác nhau tạo ra nhằm thực hiện những mục đích khác nhau.
• Ai nắm quyền sở hữu người đó nắm quyền lãnh đạo tổ chức và họ sẽ quyết định những người nắm quyền điều hành tổ chức.
• Đối tượng quản lý là những người và những nguồn lực được thu hút vào hoạt động của tổ chức.
• Giá trị gia tăng tạo ra được phân phối như thế nào còn phụ thuộc vào mục đích của tổ chức.

 => Với những yếu tố trên, quản lý các cơ quan Nhà nước khác với quản lý các doanh nghiệp, hay nhà trường. Quản lý một doanh nghiệp công nghiệp khác với một doanh nghiệp du lịch. Quản lý cửa hàng thuốc của ông A sẽ khác với quản lý cửa hàng thuốc của ông B. Nói một cách khác, phương diện kinh tế - xã hội thể hiện đặc trưng của quản lý trong từng tổ chức. Nó chứng tỏ quản lý tổ chức vừa mang tính phổ biến vừa mang tính đặc thù. Quản lý là một nghệ thuật.
Quản lý là một khoa học
 Quản lý là một khoa học
 Bất cứ lĩnh vực nào để trở thành một khoa học phải có 2 điều kiện:
• Phải trải qua quá trình tìm hiểu, nhận biết, tức là quá trình tích luỹ kiến thức;
• Những hiểu biết (kiến thức) phải có tính hệ thống, tính quy luật, phản ánh thực tế, được thực tế kiểm nghiệm và chấp nhận.

 Quản lý là một khoa học, dựa trên một số căn cứ:
 Là kết quả của hoạt động nhận thức đòi hỏi phải có một quá trình không ngừng bổ sung và hoàn thiện. Phải tổng kết rút ra bài học thực tiễn, từ đó mới nhận thức mới đầy đủ.

 Xác định rõ đối tượng nghiên cứu khoa học quản lý là các mối quan hệ quản lý. Do đó phải có quan điểm và tư duy hệ thống, tôn trọng các quy luật khách quan, lý luận gắn với thực tiễn, đồng thời bổ sung lý luận.

 Có hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật và những vấn đề có tính quy luật.

 Tóm lại, khoa học quản lý cho chúng ta những hiểu biết về các quy luật, nguyên tắc, phương pháp, kỹ thuật quản lý; để trên cơ sở đó biết cách giải quyết các vấn đề quản lý trong các hoàn cảnh cụ thể, biết cách phân tích một cách khoa học những thời cơ và những khó khăn trở ngại trong việc đạt tới mục tiêu. Tuy nhiên, nó chỉ là một công cụ; sử dụng nó càng tính toán.

 Quản lý là một khoa học

 Đối tượng nghiên cứu của khoa học quản lý
• Là một khoa học, khoa học quản lý có đối tượng nghiên cứu là các quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động của tổ chức. Những quan hệ này có thể là quan hệ giữa tổ chức với môi trường, hay mối quan hệ giữa các cá nhân và tập thể v.v...

 Nội dung nghiên cứu của khoa học quản lý

• Cơ sở lý luận và phương pháp luận của khoa học quản lý;
• Quá trình quyết định quản lý và đảm bảo thông tin cho các quyết định;
• Các chức năng quản lý;
• Người quản lý,
• Các vấn đề về kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý và đổi mới các hoạt động quản lý tổ chức v.v...
• Ngoài ra, khoa học quản lý của từng lĩnh vực, từng ngành còn có những nội dung nghiên cứu cụ thể khác.

 Phương pháp nghiên cứu của khoa học quản lý
• Khoa học quản lý sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu của các khoa học như: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp toán học, xác suất, thống kê, tâm lý và xã hội ..., trong đó khoa học quản lý lấy phương pháp phân tích hệ thống làm phương pháp nghiên cứu chủ yếu của mình

Quản lý là một nghệ thuật
 Quản lý là một nghệ thuật
 Đối tượng quản lý và môi trường quản lý là luôn biến đổi không theo quy luật. Chính vì vậy, nhà quản lý cho dù có trong tay rất nhiều phương thức quản lý khoa học lợi hại cũng không bao giờ áp dụng một cách cứng nhắc và áp đặt các phương thức đó lên đối tượng quản lý hay thậm chí lên mọi đối tượng quản lý nếu như đó là một nhà quản lý thực thụ=> Để thành công trong quản lý, nhà quản lý không chỉ biết cách áp dụng các phương pháp quản lý khoa học mà việc áp dụng các phương pháp quản lý này còn đòi hỏi tính nghệ thuật cao.

 Nghệ thuật quản lý là việc thực hành quản lý trên cơ sở vận dụng các yếu tố khoa học quản lý và các yếu tố khác ( năng khiếu, kinh nghiệm, trực giác…) vào giải quyết các nhiệm vụ nhằm đặt mục tiêu đặt ra cho toàn hệ thống hay tổ chức được xem xét.

 Nghệ thuật quản lý đòi hỏi cao khi nói đến việc quản lý con người. Ai cũng biết rằng con người là một tiểu chủ thể của xã hội, nơi tập hợp các yếu tố khoa học, tôn giáo, tín ngưỡng, tâm lý và một yếu tố siêu vật thể nữa đó là yếu tố ”nhân cách học”. Một nhà quản lý tài ba không chỉ biết sử dụng đúng lúc, đúng chỗ sở trường, tay nghề của nhân viên mà cần phải cực kỳ khôn khéo và lanh lẹ phản ứng, đưa ra xử trí kịp thời với các yêu tố “nhân cách học” của nhân viên trước sự thay đổi của môi trường làm việc.

 => Đó chính là tính nghệ thuật trong quản lý.





Quản lý là một nghề
 Quản lý là một nghề
 Ngày nay quản lý có thể được xem là một nghề, bởi vì những nhà quản lý có khuynh hướng ngày càng tách rời những người sở hữu.

 Ngoài ra, có nhiều tổ chức đang thực hiện chức năng đào tạo ra những người quản lý một cách chuyên môn hóa, nhằm phục vụ cho các nhu cầu quản lý của xã hội.

 Nghề quản lý (The profession of Management) ai cũng có thể học để tham gia các hoạt động kinh tế. Nhưng học có thành công hay không ? Có học giỏi nghề hay không? Điều đó còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác: học ở đâu? ai dạy nghề? cách học nghề ra sao? chương trình như thế nào? người dạy có thực tâm truyền nghề hết hay không? năng khiếu nghề nghiệp, ý chí làm giàu, lương tâm nghề nghiệp của người học nghề ra sao? Các tiền đề tối thiếu về vật chất ban đầu cho sự hành nghề được bao nhiêu.,..

 => Như vậy, muốn điều hành các hoạt động kinh tế có kết quả một cách chắc chắn, thì trước tiên các nhà quản lý phải được đào tạo nghề một cách chu đáo, để phát hiện một cách chuẩn xác và đầy đủ các quy luật khách quan xuất hiện trong quá trình kinh doanh; đồng thời có phương pháp và nghệ thuật thích hợp, nhằm tuân thủ đúng các đòi hỏi của các quy luật đó.

Vai trò của quản lý
 Tiếp cận vai trò của quản lý theo từng đặc trưng nổi bật của nó:
• A.Smith (Nhà kinh tế học Cổ điển Anh, thế kỉ XVIII) nhấn mạnh tới vai trò của phân công lao động đối với hiệu quả của sản xuất. A. Smith cho rằng: lao động chung mang lại hiệu quả lớn hơn lao động cá thể là nhờ có sự phân công lao động hợp lí vì 3 lý do cơ bản:
– 1) Kỹ năng của người lao động được nâng cao;
– 2) Tiết kiệm được thời gian vì không phải chuyển từ công việc này sang công việc khác;
– 3) Tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư khoa học - kỹ thuật nhằm cải tiến công cụ sản xuất.

• Các Mác phát triển các tư tưởng của A.Smith và khẳng định lao động tập thể được tổ chức hợp lý bao giờ cũng mang lại hiệu quả lớn hơn lao động cá thể điều đó có được là nhờ ngoài việc phân công lao động hợp lý, lao động tập thể còn tạo ra bầu không khí thi đua và từ đó kích thức tinh lực của người lao động. Các Mác còn đặc biệt đánh giá cao vai trò của "ý chí điều khiển" trong hoạt động chung và đồng thời coi tác nhân quản lý có vai trò như là "nhạc trưởng" của dàn nhạc.

• V.I.Lênin luôn đề cao sức mạnh to lớn của công tác tổ chức trong tiến trình cách mạng của giai cấp vô sản. Ở thời kỳ non trẻ và khó khăn của cách mạng Nga, ông đã đưa ra một luận điểm quan trọng: Hãy cho tôi một tổ chức của những người cộng sản, tôi sẽ làm đảo lộn cả nước Nga. Và không phải ngẫu nhiên, trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng trật tự xã hội mới, Lênin luôn kêu gọi và yêu cầu các nhà máy, công xưởng của Chính quyền Xô viết muốn đạt năng suất cao thì phải học tập và áp dụng mô hình quản lý của Taylor.

• Các chuyên gia Nhật Bản đưa ra học thuyết về "nhân tố thứ tư" để khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của quản lý. Quản lý được coi là nhân tố thứ tư như là nhân tố nối kết 3 nhân tố trong các xã hội truyền thống (Tư bản, ruộng đất và lao động) và đóng vai trò là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội hiện đại.
 Tiếp cận tổng thể về vai trò của quản lý:

• Thứ nhất: Vai trò định hướng. Nhờ có hoạt động quản lý với tư cách là ý chí điều khiển một cộng đồng người, một tổ chức người mà nó có thể hướng các hoạt động của các thành viên theo một véctơ chung. Vai trò định hướng của hoạt động quản lý được biểu hiện chủ yếu thông qua chức năng lập kế hoạch.

• Thứ hai: Vai trò thiết kế. Để thực hiện mục tiêu với các phương án và các nguồn lực đã được xác định thì cần phải có "kịch bản". Chính vì vậy, thông qua chức năng tổ chức mà các hoạt động quản lý sẽ thực hiện vai trò thiết kế của nó.


• Thứ ba: Vai trò duy trì và thúc đẩy. Vai trò duy trì và thúc đẩy được thể hiện qua chức năng lãnh đạo của quy trình quản lý. Nhờ có hệ thống nguyên tắc quản lý (nội quy, quy chế) mới có thể bắt buộc chủ thể quản lý và đối tượng quản lý hoạt động trong giới hạn quyền lực và thẩm quyền của họ. Đây là nhân tố đặc biệt quan trọng góp phần tạo nên kỷ luật, kỷ cương tính ổn định, bền vững của một tổ chức.

• Thứ tư: Vai trò điều chỉnh. Thông qua chức năng kiểm tra mà hoạt động quản lý thể hiện vai trò điều chỉnh của nó. Với hệ thống các tiêu chí được xây dựng để đo lường các kết quả hoạt động của tổ chức để đưa ra các giải pháp nhằm điều chỉnh những sai lệch, sửa chữa những sai lầm, từ đó đảm bảo cho tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu đã đề ra.

• Thứ năm: Vai trò phối hợp. Thông qua các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm ta mà hoạt động quản lý biểu hiện vai trò phối hợp của nó. Bản chất của hoạt động quản lý là nhằm phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực...) để có được sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện mục tiêu chung mà sự nỗ lực của một cá nhân không thể làm được.

Phân biệt khái niệm quản lý, quản trị, lãnh đạo và điều khiển?

• Quản lý:
 Là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách có tổ chức, có hướng đích nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.

• Lãnh đạo:
 Nghĩa rộng là: Sự dẫn đường chỉ lối, dẫn dắt, điều khiển (đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện) mọi hoạt động của cá nhân và tổ chức nào đó nhằm đạt đến mục tiêu nhất định.
 Nghĩa hẹp: là sự tác động điều khiển trực tiếp những hoạt động của con người và xã hội nhằm đạt đến mục đích cụ thể đã vạch ra.

• Chỉ huy:
 là sự điều khiển hoạt động của một lực lượng, một tập thể có tổ chức nhằm thực hiện một mục đích nhất định, gắn liền với hoạt động cụ thể có tính cấp bách, khẩn trương và đòi hỏi phải có sự phục tùng tuyệt đối ngay lập tức của cấp dưới;

 Giống nhau:

 Quản lý, Lãnh đạo, Chỉ huy đều là hoạt động chỉ đạo, định hướng, điều khiển thực hiện một công việc theo một mục đích nhất định.

 Đều gắn với con người, quan hệ người với người, giữa chủ thể và đối tượng.

 Xét về bản chất nội dung thì Quản lý, Lãnh đạo, Chỉ huy cũng đều chính là hoạt động bao gồm quá trình ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định, điều khiển hoạt động của đơn vị tổ chức đạt đến mục đích đã đặt ra.

 Xét về hình thức và phương pháp thì đều là đều là sự vận động của thông tin, sự điều khiển, định hướng, dựa trên cơ sở tác động chủ quan của chủ thể điều khiển tới đối tượng bị điều khiển thông qua hệ thống các công cụ, phương tiện.

 Dưới góc độ hoạt động cụ thể thì cả quản lý, lãnh đạo và chỉ huy không phải là hoạt động ra quyết định đơn thuần là định hướng chung chung, mà cả ba hoạt động này còn phải trực tiếp chỉ đạo mỗi tổ chức cá nhân con người cụ thể, từng khâu công tác cụ thể trong phạm vi chức trách của mình.

 Quản lý, lãnh đạo và chỉ huy có nhiều chỗ tương đồng, đều phục vụ chung một mục đích, gần như bổ sung cho nhau, đan xen nhau mà không cản trở nhau.

 Quản lý, lãnh đạo và chỉ huy đều có vai trò quan trọng đặc biệt trong đời sống xã hội con người.

 Khác nhau:
 Khác về phương thức tác động và hiệu lực:
 Lãnh đạo: sử dụng chủ yếu là phương pháp động viên, thuyết phục, gây ảnh hưởng, để ra nguyên tắc, mô hình
 Quản lý dựa vào pháp luật và các thể chế, quy chế, nguyên tắc, mô hình đã định trước.
 Chỉ huy sử dụng thường dựa vào phương pháp quyền uy, mệnh lệnh, điều lệ, kỷ luật.
 Về hiệu lực, lãnh đạo tập hợp các cá nhân đối tượng bị lãnh đạo thành tổ chức chặt chẽ và làm cho ảnh hưởng của lãnh đạo lan tỏa ra trong toàn tổ chức; còn quản lý và chỉ huy thường thông qua hoạt động của điều hành, tác động trực tiếp đến các các nhân, nhóm của tổ chức, hiệu lực là trực tiếp.

 Khác về nội dung chức năng:
 Lãnh đạo gồm có: xác định phương hướng, mục tiêu lâu dài, lựa chọn chủ trương chiến lược, điều hòa phối hợp các mối quan hệ và động viên thuyết phục con người.
 Quản lý bao gồm các việc: xây dựng kế hoạch, sắp xếp tổ chức, chỉ đạo điều hành và kiểm soát tiến trình hoạt động.
 Chỉ huy bao gồm sử dụng nhiệm vụ quyền hạn đặc biệt được giao một cách độc lập, chủ động, yêu cầu cấp dưới phải chấp hành phục tùng tuyệt đối.

 Khác về phạm vi tác động và hình thức thể hiện:
 Quản lý: là một phạm trù rộng, để tiến hành quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện đồng bộ rất nhiều chức năng, trong đó có chức năng lãnh đạo. để chủ thể thực hiện tổ chức liên kết và tác động lên đối tượng bị quản lý để thực hiện các định hướng tác động dài hạn đã được định trước.

 Lãnh đạo: hoạt động điều khiển của chủ thể lãnh đạo đối với đối tượng bị lãnh đạo ở tầm vĩ mô(hoạt động lãnh đạo là hoạt động có tầm vĩ mô).

 Chỉ huy: Là tổ chức thực hiện làm sao để chủ trương, đường lối, kế hoạch do lãnh đạo đặt ra được áp dụng trong khi thực thi một nhiệm vụ nhất định. Đi sâu vào việc chấp hành, tổ chức thực hiện một công việc cụ thể (ở tầm vi mô).

 => Qua phân tích trên cho thấy, để hoạt động của một tổ chức cũng như một xã hội ổn định hài hoà và hiệu quả cũng đều cần cả lãnh đạo, chỉ huy và quản lý. Tuy vậy, lãnh đạo phải đi trước một bước, biết nhìn xa trông rộng, vạch đường chỉ lối và nói chung, không thể có sai lầm hệ thống; lại phải luôn theo dõi tiến trình quản lý, chỉ huy bằng nhận thức chiến lược và đánh giá kết quả chung, không chỉ của quá trình quản lý cũng như hoạt động chỉ huy cụ thể.

• Lãnh đạo, điều khiển và quản trị là những thuật ngữ có mối quan hệ gần gũi với thuật ngữ quản lý nhưng không đồng nhất.

 1. Lãnh đạọ:
– Những nhà quản lý học có những quan điểm khác nhau về định nghĩa lãnh đạo, nhưng nội dung bản chất là giống nhau.

– Họ đều cho rằng lãnh đạo là người dẫn dắt cấp dưới thực hiện mục tiêu của tổ chức.

– Quản lý và lãnh đạo đều có mục đích là thực hiện mục tiêu của tổ chức, nhưng chúng có điểm khác biệt rõ rệt như sau:

 Lãnh đạo là một chức năng của quản lý, thường được gọi là chức năng lãnh đạo, còn chức năng khác của quản lý lại không phải là lãnh đạo. Ví dụ: công việc mà những người tham mưu trong tổ chức làm là công tác quản lý, nhưng không phải là công tác lãnh đạo.

 Quản lý ở đây chỉ hành vi quản lý, công tác lãnh đạo vừa bao gồm hành vi quản lý, vừa bao gồm hoạt động nghiệp vụ khác. Ví dụ: một người lãnh đạo doanh nghiệp cần gặp và tiếp nhân vật quan trọng, tham gia đàm phán, tham dự những hoạt động chung.

 Thông thường, lãnh đạo chủ yếu là lãnh đạo con người, xử lý quan hệ giữa người với người, đặc biệt là quan hệ cấp trên và cấp dưới. Đây là vấn đề cốt lõi trong hoạt động quản lý. Còn về quản lý, ngoài quản lý con người, đối tượng của quản lý còn bao gồm tài chính, vật chất, giữa vật chất và con người, giữa con người và tài chính. Phạm vi mà quản lý đề cập đến rộng hơn nhiều so với lãnh đạo.

 Quản lý và lãnh đạo khác biệt nhau nhưng có liên quan mật thiết với nhau

 Hoạt động lãnh đạo tập trung vào việc đưa ra quyết sách, xác định mục tiêu, kế hoạch phấn đấu, vạch ra chính sách tương ứng và phương hướng lãnh đạo khu vực, ban ngành, đơn vị tiến lên phía trước… Còn quản lý tập trung giữ vững và tăng cường hoạt động của tổ chức để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu mà lãnh đạo đã xác định.

 2. Điều khiển.
• Điều khiển là thuật ngữ của điều khiển học, thể hiện quá trình tác động của chủ thể lên đối tượng, đảm bảo cho hành vi của đối tượng hướng tới mục tiêu của hệ thống khi điều kiện bên ngoài thay đổi.

• Thông tin là đặc trưng quan trọng nhất của hoạt động điều khiển. Điều khiển là quá trình thông tin. Chủ thể điều khiển thu thập thông tin về môi trường và đối tượng; xác định mục tiêu; xây dựng và lựa chọn phương án quyết định tối ưu; truyền đạt quyết định cho đối tượng thực hiện; tiến hành các tác động điều chỉnh để đảm bảo đối tượng đạt được mục tiêu đã định. Khác với điều khiển, trong quản lý tồn tại những đối tượng điều khiển được và cả những đối tượng không điều khiển được.

 3. Quản trị
• Thuật ngữ này thường được sử dụng để chỉ quản lý ở phạm vi các đơn vị kinh tế cơ sở như công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh v.v.

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

Danh sách các chuyên ngành đào tạo trình độ thạc sĩ chưa đủ điều kiện về giảng viên cơ hữu và có học viên nhập học

TT Cơ sở đào tạo Tên chuyên ngành đào tạo Năm được giao nhiệm vụ Giảng viên cơ hữu cùng ngành GS, PGS, TSKH Giảng viên cơ hữu đúng C.ngành Số học viên
1. Học viện Chính trị Quản lí giáo dục 2006 5 2 0 34
2. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia HCM Hồ Chí Minh học 2002 5 1 0 125
3. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia HCM Kinh tế phát triển 1989 19 11 2 53
4. Học viện Khoa học Quân sự Tình báo quân sự 1997 9 2 2 126
5. Học viện Khoa học xã hội Luật quốc tế 1994 0 0 0 0
6. Học viện Khoa học xã hội Tội phạm học và điều tra tội phạm 1994 0 0 0 0
7. Học viện Khoa học xã hội Quyền con người 2011 4 4 0
8. Học viện Khoa học xã hội Tội phạm và phòng ngừa tội phạm 1994 4 2 3 0
9. Học viện Khoa học xã hội Luật hiến pháp và luật hành chính 1994 4 2 3 44
10. Học viện Khoa học xã hội Luật hình sự và tố tụng hình sự 1994 4 2 4 83
11. Học viện Khoa học xã hội Luật Kinh tế 1994 4 3 4 114
12. Học viện Khoa học xã hội Quản lý giáo dục 2011 6 0 0
13. Học viện Khoa học xã hội Chính sách công 2011 6 2 1
14. Học viện Kỹ thuật Quân sự Kỹ thuật vật liệu 2006 4 2 4 3
15. Học viện Kỹ thuật Quân sự Quản lý khoa học và công nghệ 1999 6 1 0 248
16. Học viện Quân y Ký sinh trùng và côn trùng y học 1994 5 1 2 7
17. Khoa Quản trị kinh doanh - ĐHQG Hà Nội Quản trị Kinh doanh 1995 10 2 0 1148
18. Nhạc viện Tp. Hồ Chí Minh Phương pháp dạy học âm nhạc 1994 0 0 0 31
19. Nhạc viện Tp. Hồ Chí Minh Âm nhạc học 1992 3 0 3 8
20. Nhạc viện Tp. Hồ Chí Minh Nghệ thuật âm nhạc 1992 3 0 3 44
21. ĐH An ninh Nhân dân Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự 2005 0 0 0 0
22. ĐH Bách khoa - ĐHQG TP HCM Kỹ thuật hàng không 2011 0 0 0
23. ĐH Bách khoa - ĐHQG TP HCM Công nghệ sinh học 2004 4 2 0 153
24. ĐH Bách khoa - ĐHQG TP HCM Xây dựng cầu, hầm 2000 4 1 3 93
25. ĐH Bách khoa - ĐHQG TP HCM Xây dựng đường ôtô và đường thành phố 2000 4 1 3 96
26. ĐH Bách khoa - ĐHQG TP HCM Bản đồ, viễn thám và hệ thông tin địa lý 1998 5 2 1 70
27. ĐH Bách khoa - ĐHQG TP HCM Vật liệu và công nghệ vật liệu xây dựng 1991 6 1 1 36
28. ĐH Bách khoa - ĐHQG TP HCM Xây dựng công trình biển 2002 13 4 1 71
29. ĐH Bách khoa - ĐHQG TP HCM Kỹ thuật Hệ thống công nghiệp 2004 6 1 2 76
30. ĐH Bách khoa - ĐHQG TP HCM Vật lý kỹ thuật 1991 7 2 2 62
31. ĐH Bách khoa - ĐHQG TP HCM Công nghệ và quản lý xây dựng 2003 7 0 2 253
32. ĐH Bách khoa - ĐHQG TP HCM Kỹ thuật hóa dầu 2008 7 0 2 28
33. ĐH Bách khoa - ĐHQG TP HCM Toán ứng dụng 1991 10 1 2 42
34. ĐH Bách khoa - ĐHQG TP HCM Địa chất dầu khí ứng dụng 2006 10 1 2 60
35. ĐH Bình Dương Quản trị kinh doanh 2008 16 5 2 162
36. ĐH Cần Thơ Hoá phân tích 2005 0 0 0 0
37. ĐH Cần Thơ Hoá vô cơ 2005 0 0 0 0
38. ĐH Cần Thơ Vật lý nguyên tử 2005 0 0 0 0
39. ĐH Cần Thơ Đại số và lý thuyết số 2000 0 0 0 87
40. ĐH Cần Thơ Vật lý kỹ thuật 2000 3 0 2 149
41. ĐH Cần Thơ Vật lý lý thuyết và Vật lý toán 2000 3 0 3 142
42. ĐH Cần Thơ Văn học Việt Nam 2006 3 0 3 164
43. ĐH Cần Thơ Hóa lý thuyết và Hóa lý 2000 4 0 3 91
44. ĐH Cần Thơ Lý thuyết xác suất và thống kê toán học 2000 4 0 4 64
45. ĐH Cần Thơ Toán giải tích 2000 4 0 4 122
46. ĐH Công đoàn Quản lý An toàn và Sức khỏe nghề nghiệp 2011 6 1 2
47. ĐH Đà Lạt Sinh thái học 2004 2 1 0 37
48. ĐH Đà Lạt Sinh học thực nghiệm 2004 2 0 1 128
49. ĐH Đà Lạt Vật lý kỹ thuật 1993 4 0 0 57
50. ĐH Đà Lạt Hóa phân tích 1999 4 1 3 93
51. ĐH Đà Lạt Lịch sử Việt Nam 1999 6 0 0 51
52. ĐH Dược Hà Nội Tổ chức quản lý dược 1999 4 3 1 91
53. ĐH Dược Hà Nội Kiểm nghiệm thuốc và Độc chất 1995 5 2 2 46
54. ĐH Hải Phòng Quản trị kinh doanh 2008 6 0 1 210
55. ĐH Hải Phòng Ngôn ngữ Việt Nam 2008 6 0 2 82
56. ĐH Khoa học - ĐH Huế Quản lý tài nguyên và môi trường 2008 4 1 0 59
57. ĐH Khoa học - ĐH Huế Địa lý tài nguyên và Môi trường 2006 4 2 3 47
58. ĐH Khoa học - ĐH Huế Công nghệ sinh học 2010 4 0 3 16
59. ĐH Khoa học - ĐH Huế Sinh học thực nghiệm 1999 5 4 1 71
60. ĐH Khoa học - ĐH Huế Khoa học Môi trường 2006 5 1 2 80
61. ĐH Khoa học - ĐH Huế Văn học nước ngoài 1999 5 2 5 0
62. ĐH KHTN - ĐHQG TP HCM Vật lý địa cầu 1991 1 1 1 30
63. ĐH KHTN - ĐHQG TP HCM Di truyền 2004 1 1 1 109
64. ĐH KHTN - ĐHQG TP HCM Lý thuyết xác suất và thống kê toán học 1991 2 1 2 39
65. ĐH KHTN - ĐHQG TP HCM Vi sinh vật học 1995 3 2 1 146
66. ĐH KHTN - ĐHQG TP HCM Hải dương học 1991 4 3 3 12
67. ĐH KHTN - ĐHQG TP HCM Hóa vô cơ 1991 4 0 4 78
68. ĐH KHTN - ĐHQG TP HCM Khoa học môi trường 1998 6 2 0 59
69. ĐH KHTN - ĐHQG TP HCM Vật lý vô tuyến và điện tử 1991 9 2 0 46
70. ĐH KHTN - ĐHQG TP HCM Đảm bảo toán học cho máy tính và HTTT 2006 10 5 1 56
71. ĐH KHTN - ĐHQG TP HCM Sinh thái học 1991 6 0 2 80
72. ĐH KHTN - ĐHQG TP HCM Kỹ thuật điện tử-( Vi điện tử) 2007 6 4 2 55
73. ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP HCM Khoa học thư viện 2003 4 1 3 48
74. ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP HCM Xã hội học 2003 4 0 4 164
75. ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP HCM Châu Á học 2004 5 3 0 123
76. ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP HCM Việt Nam học 2008 5 2 0 47
77. ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP HCM Địa lý học 2002 6 1 0 26
78. ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP HCM Văn hóa học 2000 6 2 0 175
79. ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP HCM Sử dụng bảo vệ tào nguyên môi trường 1997 5 2 1 37
80. ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP HCM Khảo cổ 2004 5 3 2 10
81. ĐH Kiến trúc Hà Nội Quy hoạch vùng và đô thị 1994 5 1 2 145
82. ĐH Kinh tế - ĐHQG Hà Nội Quản lý kinh tế 2010 9 4 0 244
83. ĐH Kinh tế Quốc dân Quản trị nhân lực 1991 4 3 4 55
84. ĐH Kinh tế Quốc dân Kinh tế quốc tế 1991 5 2 2 202
85. ĐH Kinh tế TP HCM Kinh tế nông nghiệp 1991 0 0 0 0
86. ĐH Kinh tế TP HCM Quản lý công nghiệp 1991 0 0 0 0
87. ĐH Kinh tế TP HCM Kinh tế học 2005 0 0 0 0
88. ĐH Kinh tế TP HCM Quản trị nhân lực 1991 5 1 0 0
89. ĐH Kinh tế TP HCM Chính sách công 2008 5 1 0 73
90. ĐH Kinh tế TP HCM Quản lý kinh tế 1991 9 2 0 0
91. ĐH Kinh Tế Luật - ĐHQG TP HCM Quản trị kinh doanh 2010 6 1 1 26
92. ĐH Luật Hà Nội Tội phạm và điều tra tội phạm 2004 0 0 0 0
93. ĐH Luật Hà Nội Luật Hiến pháp 2008 4 3 4 11
94. ĐH Luật TP HCM Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm 2004 0 0 0 0
95. ĐH Luật TP HCM Luật Hình sự và tố tụng hình sự 1997 3 0 3 200
96. ĐH Mỹ thuật Việt Nam Lý luận và lịch sử mỹ thuật 1995 4 1 4 10
97. ĐH Mỹ thuật Việt Nam Mỹ thuật tạo hình 1995 4 2 4 211
98. ĐH Ngoại ngữ - ĐH Huế Ngôn ngữ Nga 2006 5 0 3 0
99. ĐH Nông Lâm TP HCM Khoa học đất 1991 2 0 2 4
100. ĐH Nông Lâm TP HCM Quản lý đất đai 2008 3 1 3 55
101. ĐH Nông nghiệp Hà Nội Kỹ thuật điện 1997 2 0 2 84
102. ĐH Nông nghiệp Hà Nội Nuôi trồng thuỷ sản 2003 2 0 2 133
103. Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội Kỹ thuật tài nguyên nước 1997 6 4 4 0
104. Trường ĐH Qui Nhơn Phương pháp toán sơ cấp 1998 3 0 3 50
105. Trường ĐH Qui Nhơn Ngôn ngữ Anh 2012 5 1 2
106. Trường ĐH Sân khấu Điện ảnh Hà Nội Lý luận và lịch sử sân khấu 2011 0 0 0
107. Trường ĐH Sân khấu Điện ảnh Hà Nội Lý luận, lịch sử và phê bình điện ảnh - truyền hình 2011 0 0 0
108. Trường ĐH SPKT Tp HCM Lý luận và Phương pháp dạy học 1991 4 0 3 47
109. Trường ĐH SPKT Tp HCM Giáo dục học 2007 4 0 3 234
110. Trường ĐH SPKT Tp HCM Kỹ thuật điện 2002 4 1 4 214
111. Trường ĐH SPKT Tp HCM Kỹ thuật điện tử 2007 4 2 4 118
112. Trường ĐH Sư phạm - ĐH Huế Quản lý giáo dục 1995 2 1 0 168
113. Trường ĐH Sư phạm - ĐH Huế Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử 1995 4 1 3 31
114. Trường ĐH Sư phạm - ĐH Huế Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Địa lý 1995 4 1 3 34
115. Trường ĐH Sư phạm - ĐH Huế Địa lý học 2000 4 0 4 45
116. Trường ĐH Sư phạm - ĐH Huế Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Kỹ thuật nông nghiệp 2011 5 3 2
117. Trường ĐH Sư phạm Hà Nội Khoa học máy tính 2004 4 0 3 145
118. Trường ĐH Sư phạm Hà Nội LL và PPDH bộ môn Tin học 2009 4 1 3 14
119. Trường ĐH Sư phạm Hà Nội Hệ thống thông tin 2009 4 2 3 21
120. Trường ĐH Sư phạm Tp HCM Vi sinh vật học 2002 0 0 0 35
121. Trường ĐH Sư phạm Tp HCM Sinh học thực nghiệm 2002 1 0 1 24
122. Trường ĐH Sư phạm Tp HCM Sinh thái học 2002 1 0 1 34
123. Trường ĐH Sư phạm Tp HCM Hình học và tôpô 1991 4 1 2 39
124. Trường ĐH Sư phạm Tp HCM Vật lý NT, HN & NLC 2006 4 1 3 70
125. Trường ĐH Sư phạm Tp HCM LL&PPDH BM Văn học 1998 5 0 0 44
126. Trường ĐH Sư phạm Tp HCM LL&PPDH BM tiếng Pháp 1998 6 0 0 15
127. Trường ĐH Sư phạm Tp HCM Quản lý giáo dục 1998 6 0 0 134
128. Trường ĐH Sư phạm Tp HCM Lý luận văn học 1991 5 3 2 29
129. Trường ĐH Tài chính - Maketting Quản trị kinh doanh 2011 9 2 0
130. Trường ĐH Thủy Lợi Kỹ thuật cơ sở hạ tầng 2002 10 2 4 0
131. Trường ĐH Vinh Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Anh 2009 3 1 1 107
132. Trường ĐH Vinh Hóa phân tích 1997 3 1 3 78
133. Trường ĐH Vinh Hoá hữu cơ 1999 3 2 3 98
134. Trường ĐH Vinh Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học 1993 3 2 3 163
135. Trường ĐH Vinh Hóa vô cơ 1999 4 1 4 66
136. Trường ĐH Xây dựng Cơ học kỹ thuật 2004 9 7 9 0
137. Trường ĐH Y Dược - ĐH Huế Sản phụ khoa 2006 7 3 6 0
138. Trường ĐH Y Dược Tp Hồ Chí Minh Điều dưỡng 2006 0 0 0 26
139. Trường ĐH Y Dược Tp Hồ Chí Minh Huyết học và truyền máu 2005 2 0 2 23
140. Trường ĐH Y Dược Tp Hồ Chí Minh Gây mê hồi sức 1998 2 1 2 38
141. Trường ĐH Y Dược Tp Hồ Chí Minh Kỹ thuật hình ảnh y học 2007 2 1 2 22
142. Trường ĐH Y Dược Tp Hồ Chí Minh Ký sinh trùng và côn trùng y học 1994 3 3 2 1
143. Trường ĐH Y Dược Tp Hồ Chí Minh Da liễu 2005 3 1 3 21
144. Trường ĐH Y Dược Tp Hồ Chí Minh Y tế công cộng 2008 3 2 3 36
145. Trường ĐH Y Dược Tp Hồ Chí Minh Y học dự phòng 1994 4 4 4 21
146. Trường ĐH Y Dược Tp Hồ Chí Minh Lao 2005 4 2 4 34
147. Trường ĐH Y Dược Tp Hồ Chí Minh Thần kinh và tâm thần 2005 4 1 4 43
148. Trường ĐH Y Hà Nội Ký sinh trùng và côn trùng y học 1996 2 1 2 2
149. Trường ĐH Y Hà Nội Truyền nhiễm và các bệnh nhiệt đới 1992 3 1 3 14
150. Trường ĐH Y Hà Nội Phục hồi chức năng 1998 3 2 3 16
151. Trường ĐH Y Hà Nội Dược lý và độc chất 1993 4 2 4 5
152. Trường ĐH Y Hà Nội Lao 1992 4 3 4 9
153. Trường ĐH Y Hà Nội Gây mê hồi sức 1992 4 2 4 41
154. Trường ĐH Y Hà Nội Hồi sức cấp cứu và chống độc 1987 4 2 4 50
155. Trường ĐH Y tế công cộng Quản lý bệnh viện 2007 7 6 0 113
156. Trường ĐH Y Thái Bình Nội khoa 2006 7 3 2 12
157. Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN Quản lý khoa học và Công nghệ 1989 10 3 1 33
158. Viện Đảm bảo CLGD - ĐHQG Hà Nội Đo lường và đánh giá trong giáo dục 2005 1 1 1 127
159. Viện Khoa học giáo dục Việt Nam Quản lý giáo dục 1997 6 4 2 140
160. Viện Khoa học Nông nghiệp Việt nam Thú y 2004 0 0 0 0
161. Viện Mtrường và Tài nguyên - ĐHQGTpHCM Quản lý môi trường