Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2008
NHỮNG PHẨM CHẨT CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO
Thứ Tư, 30 tháng 1, 2008
Ê KÍP LÃNH ĐẠO
- Êkip là một nhóm người cùng làm một công việc chung (bao hàm cả những người đồng thuận về quan điểm và những người không đồng thuận quan điểm, do các thế lực chính trị khác nhau được bầu ra và phải làm việc cùng nhau - nước Mỹ)
- Êkip là một nhóm người có sự hoà hợp về tâm lý, đồng thuận về quan điểm cùng tiến hành một công việc chung.
- Êkip là một nhóm người có chung một mục tiêu nào đó cần liên kết với nhau để tồn tại, nhưng có thể loại bỏ lẫn nhau trong trường hợp thuận lợi. Êkip ở đây là sự liên minh tạm bợ về quyền lực để mưu lợi ích của từng cá nhân.
Từ nhiều cách hiểu đó: Êkip lãnh đạo trong quản lý là những người trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động lãnh đạo, điều hành hệ thống, có sự gắn bó với nhau về mặt tâm lý xét dưới các góc độ nào đó.
b) Đặc điểm của Êkip lãnh đạo:
1. Thứ nhất, Êkip lãnh đạo có hạt nhân là người lãnh đạo và các trợ thủ là các cán bộ quản lý các cấp thuộc chủ thể quản lý. Như vậy, êkip lãnh đạo được hiểu là nhóm người bao gồm tất cả những người thuộc phân hệ quản lý và cả một số nhỏ những người có chức năng lãnh đạo.
2. Thứ hai, Êkip lãnh đạo bao gồm những người có sự gắn bó với nhau về mặt tâm lý xét dưới góc độ nào đó.
3. Thứ ba, những người trong êkip lãnhd dạo phải bảo vệ và che chắn cho nhau để cùng tồn tại và cùng làm việc.
c) Phân loại êkip lãnh đạo: Êkip lãnh đạo tuỳ tuộc vào mức độ gắn bó với nhau về mặt tâm lý mà được chia thành những loại êkip khác nhau.
c1) Êkip lãnh đạo mạnh: Là êkip lãnh đạo thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:
Phải bao gồm được tất cả cán bộ thuộc guồng máy quản lý; các cán bộ này phải có sự đồng thuận cao về quan điểm và sự hài hoà về mặt tâm lý. Mục tiêu của họ phải phù hợp với lợi ích của hệ thống và phải mang tính chính nghĩa, với nghĩa là đem lợi ích và tiến bộ xã hội.
Người cầm đầu êkip phải là nhà lãnh đạo có hoài bão lớn, công tâm, có đạo đức;
Trong Êkip phải bao gồm đủ các tài năng quản lý; tối thiểu 6 loại cán bộ đầu ngành: 1) Chuyên gia hoạch định đường lối, chiến lược chính sách; 2) chuyên gia tổ chức; 3) chuyên gia thạo việc về tài chính; 4) chuyên gia về công nghệ, chuyên môn thuộc ngành nghề của hệ thống; 5) chuyên gia đối ngoại tầm cỡ; 6) chuyên gia giỏ về kỹ xảo quản lý (ngoại cảm, dự đoán)
Êkip lãnh đạo phải được đông đảo mọi người trong hệ thống ủng hộ và tuân thủ;
Hệ thống hoạt động có hiệu quả cao;
c2) Êkip lãnh đạo khá: là Êkip lãnh đạo thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:
Người lãnh đạo quy tụ được đại đa số các cán bộ thuộc bộ phận chủ thể quản lý; có sự đồng thuận về quan điểm và mục tiêu làm việc, đều cố gắng làm tốt phần việc được giao mà hệ thống đã thiết lập
Các cá nhân trong bộ phận của chủ thể quản lý ủng hộ và thông cảm lẫn nhau, cùng giúp việc tốt cho người lãnh đạo
Hệ thống hoạt động tương đối có hiệu quả;
c3) êkip lãnh đạo trung bình: là êkip lãnh đạo đáp ứng các yêu cầu sau:
1. Người lãnh đạo có năng lực và đức độ vừa phải, điều khiển được các cán bộ trong phân hệ chủ thể quản lý hoạt động.
Hệ thống hoạt động có hiệu quả ở mức bình thường.
c4) Êkip lãnh đạo xấu: là êkip lãnh đạo có đặc điểm sau:
Người lãnh đạo nhân cách kém, đạo đức xấu, nhiều thủ đoạn mưu lợi cá nhân
Người lãnh đạo đưa vào êkip của mình những kẻ cơ hội theo kiểu thân quen, cùng hội cùng thuyền.
Có thể (hoặc không có) quan hệ với cấp trên các cấp là những người hoặc thiếu sâu sát cấp dưới, hoặc không có năng lực quản lý
Bị đại đa số con người trong hệ thống bất hợp tác
d) Nguyên tắc hình thành êkip lãnh đạo
Nguyên tắc 1: Người lãnh đạo phải thực sự là người có sức thu hút mọi người dưới quyền (có chí lớn, độ lượng, công tâm, công bằng, làm việc theo đúng nguyên tắc, giỏi chuyên môn)
Nguyên tắc 2: Có đủ thẩm quyền quyết định và nghị lực đưa cán bộ vào êkip xây dựng
Nguyên tắc 3: Phải lựa chọn được đầy đủ cơ cấu các loại cán bộ cho êkip
UỶ QUYỀN
Sự uỷ quyền có thể thể hiện dưới 2 hình thức:
a) Uỷ quyền chính thức: Qua sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý (mỗi bộ phận có những chức năng và quyền hạn rõ ràng)
b) Uỷ quyền không chính thức: Qua sự tín nhiệm cá nhân (người lãnh đạo tổ chức ký quyết định uỷ quyền cho cấp dưới được quyền hạn và trách nhiệm đó).
Khi uỷ quyền cho cấp dưới, người lãnh đạo tổ chức có điều kiện giải phóng bớt cho mình các công việc cụ thể để tập trung vào những vấn đề đặc biệt quan trọng và bao quát của tổ chức. Mặt khác, tạo ra được môi trường rèn luyện cán bộ để từ đó chọn lọc đề bạt người xứng đáng vào vị trí quản lý cần thiết. Tuy vậy, có những trở ngại khiến nhà quản lý nhiều khi không dám uỷ quyền đó là:
- Không tin vào năng lực của cấp dưới và bao biện ôm đồm;
- Sợ bị tổ chức bên trên và tổ chức khác đánh giá là kém cỏi và vì sao nhãng trách nhiệm, sợ trách nhiệm, đổ trách nhiệm cho cấp dưới.
- Sợ bị coi là thiên vị, phân biệt đối xử, ưu ái với người này, thiếu quan tâm đến người khác.
- Người lãnh đạo nếu không mạnh dạn uỷ quyền thì họ dễ chuốc lấy những hậu quả sau:
o Không khuyến khích cấp dưới làm việc tích cực, nhất là trong những việc đột xuất, ngoại lệ;
o Tạo cho cấp dưới tâm lý chờ đợi, ỷ lại thiếu tự tin vào bản thân;
- Đối với người được uỷ quyền, bên cạnh những tác động tích cực như phân khởi và tự tin trong công việc, tích cực năng động sáng tạo tìm giải pháp, tự học tập và rèn luyện để nâng cao trình độ thì cũng có thể có những tác động tiêu cực, như dễ chủ quan, hỏng việc, không khéo léo dễ bị đồng nghiệp tảy chay, bất hợp tác.
Để việc uỷ quyền thành công trước hết phải được tiến hành một cách có ý thức từ 2 phía: người uỷ quyền và người được uỷ quyền.
- Người uỷ quyền phải rất hiểu biết bản thân và cấp dưới thì mới thực hiện sự uỷ quyền.
- Cấp dưới được uỷ quyền phải xác định được trách nhiệm trước cấp trên khi được giao quyền và phải thấy rõ những giới hạn trong quyền lực của mình để không vượt qua giới hạn đó.
Các nguyên tắc uỷ quyền. Việc uỷ quyền sử dụng các nguyên tắc sau:
a) Có giới hạn về kiểm tra. Không nên giao trách nhiệm và quyền lực cho các người khác nếu người lãnh đạo không thể kiểm tra được công việc của họ và các quyết định của họ.
b) Quyền hạn tương ứng: quyền hạn phải được chuyển giao tương ứng cùng một lúc với các trách nhiệm.
c) Trách nhiệm kép: Người lãnh đạo cấp trên bao giờ cũng chịu trách nhiệm về các hoạt động của các cấp dưới giúp việc cho mình mặc dù họ đã uỷ quyền cho cấp dưới.
d) Quyền hạn duy nhất: Mỗi một người giúp việc chỉ phải báo cáo cho một cấp trên của mình về một nhiệm vụ nhất định.
e) Uỷ quyền nhưng không lộng quyền: Lộng quyền là việc người được uỷ quyền vượt quá quyền hạn cho phép và có xu hướng lấn át, phủ định (loại bỏ) người uỷ quyền.
Năng lực, phẩm chất (tài, đức) của người lãnh đạo
Năng lực bao gồm năng lực tái tạo và năng lực sáng tạo. Nó được tạo nên do vốn tri thức, khả năng tư duy và hoạt động của trí tuệ. Nguồn gốc của năng lực chủ yếu thông qua học tập, lao động và rèn luyện trong cuộc sống là động và một phần do thừa kế và di truyền bẩm sinh.
Năng lực tài năng trong một lĩnh vực nào đó được phát triển ở trình độ cao. Khi đánh giá năng lực cán bộ lãnh đạo và quản lý, chủ yếu phải dựa vào kết quả công việc, đồng thời phải xét đến các yếu tố khác như phương thức hoàn thành công việc, tính độc lập và tính sáng tạo của họ.
2. Phẩm chất (tức là đức) là yếu tố không thể thiếu được của cán bộ lãnh đạo và quản lý. Phẩm chất là biểu hiện những đặc tính quý báu được thể hiện trong cuộc sống trong sạch và lành mạnh, mẫu mực, chống lại sự bất công, phấn đấu cho sự công bằng, văn minh. Công bằng không phải là bình quân dàn đều mà là biết giải quyết mối quan hệ lợi ích của mọi người, thực hiện cho được những công việc vì lợi ích của xã hội và lợi ích của tập thể.
Phẩm chất còn được thể hiện ở chỗ không dùng uy lực, áp chế, chà đạp người khác để nâng mình lên; không lợi dụng chức quyền để thu vén cá nhân như tham ô, móc ngoặc, hối lộ, nịnh hót cấp trên, trù dập cấp dưới.
Phẩm chất còn thể hiện ở lòng trung thực, thật thà và lương thiện có tình thương và lòng nhân hậu, có tâm đức đúng như Nguyễn Du đã nêu: Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài
Mối quan hệ giữa năng lực và phẩm chất
Quan điểm của Đảng và Bác Hồ đã từng nhấn mạnh người cán bộ lãnh đạo và quản lý phải có 2 mặt: Đức và Tài nghĩa là thông thạo chuyên môn và phải có một trình độ quản lý nhất định. Về Đức, Bác Hồ đã nói” “Người cách mạng phải có đạo đức tài mấy cũng không lãnh đạo nhân dân”. Về tài, Bác Hồ nhấn mạnh “tài” một cách cụ thể “Ai lãnh đạo trong ngành hoạt động nào thì phải biết chuyên môn của ngành ấy, những người bất lực thì phải cách chức đi, tìm người khác thay vào”.
Đức và tài có nghĩa là nói tới phẩm chất và năng lực. Đó là hai mặt của tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo và quản lý, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ta có thể biểu diễn mối quan hệ tài đức như hình sau:
Người quản lý phải đáp ứng yêu cầu tối thiểu về đạo đức(đ) và về tài năng (t) mới có khả năng đảm nhận một nhiệm vụ lãnh đạo và quản lý nào đó, ở những vị trí công tác nhất định như chức vụ, cấp bậc, trách nhiệm công tác càng cao thì yêu cầu về đức độ và tài năng càng phải được nâng cao. Vì sự phát triển đạo đức của con người chỉ có giới hạn, còn sự phát triển của tài năng là vô hạn. Cho nên cán bộ lãnh đạo và quản lý giữ chức vụ càng cao thì phải yêu cầu về tài năng càng phải được nâng cao bằng học tập (đường cong học tập)
Đặc điểm lao động của người lãnh đạo
+ Quản lý là một khoa học
+ Biểu hiện của tính khoa học trong hoạt động quản lý thực tiễn
2./ Lao động của người lãnh đạo quản lý là một loại lao động nghệ thuật (quản lý là một nghệ thuật). Bởi lẽ
+ Liên quan đến cá nhân chủ thể quản lý
+ Đối tượng của lao động quản lý là con người
+ Quản lý luôn phải xử lý tình huống
+ Nghệ thuật khai thác và sử dụng thông tin
3./ Lao động của người lãnh đạo quản lý là một loại lao động nghề nghiệp, có tính chuyên môn nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp cao (quản lý là một nghề)
4./ Hiệu quả lao động của người lãnh đạo quản lý là một loại hiệu quả đặc biệt
+ Không phải hiệu quả cá nhân mà là hiệu quả hoạt động của cả hệ thống
+ Không chỉ là hiệu quả kinh tế mà là hiệu quả tổng hợp
+ Rất khó đánh giá ngay hiệu quả lao động của người lãnh đạo quản lý
Tóm lại, từ sự phân tích trên, rút ra kết luận lao động của người lãnh đạo quản lý là loại lao động rất phức tạp có tính tổng hợp cao. Người lãnh đạo quản lý phải có trong mình nhiều loại năng lực (là nhà chính trị, nhà tổ chức, nhà chuyên môn, nhà sư phạm giáo dục, nhà hành chính luật pháp, nhà tâm lý,...). Muốn thành công người lãnh đạo phải hội tụ đủ các yếu tố khoa học, nghệ thuật và sự say mê nghề nghiệp.
Nhiệm vụ, tiêu chuẩn của người lãnh đạo
a) Phải có thực quyền: Người lãnh đạo (nhất là người cầm đầu) nếu không có quyền lực trong tay thì sẽ không có khả năng tiến hành các hoạt động quản lý, giống như người cầm dao chém vào nước thì làm sao có thể chia cắt nước ra được.
Quyền lực là phương tiện chứ không nên coi là cứu cánh là mục tiêu của con người. Quyền lực có thể san phẳng các mâu thuẫn chứ không giúp cho chúng cân bằng được. Người xưa cũng đã nói: người lãnh đạo chớ ham tiền bạc mà giết bản thân, chớ ham quyền lực mà giết con cháu, chớ ham học thuật mà giết thiên hạ.
b) Phẩm chất chính trị: Người cầm đầu, các nhà lãnh đạo muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý của mình, thì đầu tiên họ phải làm việc vì mục đích gì? họ đưa hệ thống đến đâu? đó chính là lý tưởng, mơ ước, là tương lai tươi sáng mà họ theo đuổi và cùng hệ thống phấn đấu. Cho nên phẩm chất chính trị đối với người lãnh đạo là:
- Phải kiên định lý tưởng của hệ thống và ý chí quyết tâm thực hiện bằng được lý tưởng đó.
- Phải giữ vững nguyên tắc trong quản lý và hành động.
c) Năng lực chuyên môn: Cán bộ lãnh đạo muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình còn phải thoả mãn một điều kiện khác, đó là phải có năng lực chuyên môn tương xứng. Cụ thể là:
- Người cầm đầu hệ thống phải hiểu biết sâu sắc công việc chuyên môn của hệ thống. Đó là phải có tư duy chiến lược và tầm nhìn dài hạn của việc phát triển hệ thống.
- Cán bộ lãnh đạo phải là người giỏi công việc chuyên môn thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách. Cán bộ lãnh đạo là người phần lớn đúng đầu các phân hệ chuyên môn của hệ thống, là những người trợ thủ gần gũi của người cầm đầu, phải có trình độ hiểu biết còn kỹ năng thực hành cụ thể các lĩnh vực mà mình phụ trách vớ tư cách là các chuyên gia hành động. Thế giới càng phát triển quan hệ quốc tế ngày một mở rộng, tính hội nhập và cạnh tranh ngày một cao, cán bộ lãnh đạo mà không giỏi chuyên môn thì không thể làm cho hệ thống tồn tại và phát triển được.
d) Năng lực tổ chức: đây là một yêu cầu đặc biệt quan trọng của người cầm đầu và các nhà lãnh đạo trong quản lý, đó là:
- Khả năng hình thành một tổ chức có cơ cấu hợp lý, trong đó các thành viên biết làm việc khoa học, sáng tạo, có khả năng nắm bắt nhanh nhạy các vấn đề mới nảy sinh, ra các quyết định nhanh chóng, kịp thời, chính xác.
- Trên cơ sở hiểu rõ năng lực, sở trường của từng người, từ đó bố trí đúng người đúng việc, làm cho mọi cá nhân phát huy tối đa năng lực, sở trường của họ tránh được tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, hoặc bố trí cán bộ theo kiểu “thợ mộc thì bảo đi xây nhà, thợ nề thì bảo đi đóng tủ”.
- Người lãnh đạo phải có khả năng thu thập, phân tích, tổng hợp và xử lý thông tin một cách nhanh chóng, ra quyết định lãnh đạo đúng đắn, kịp thời, phù hợp với hoàn cảnh và các tình huống khác nhau.
- Phải nhậy cảm với cái mới, phải có óc quan sát và phải thông minh. Đây là đặc điểm của các nhà quản lý có tài. Họ biết nhanh chóng tìm ra mục tiêu của hệ thống và con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để đạt các mục tiêu đó.
- Dũng cảm, dám chịu trách nhiệm, quyết đoán, đây là một yêu cầu cần có về năng lực tổ chức của người lãnh đạo, vì họ là người đứng mũi chịu sào trước hệ thống.
- Không bao giờ chịu đầu hàng trước khó khăn, đây cũng là một phẩm chất rất quý của năng lực tổ chức. Người xưa khi nói về những người lãnh đạo có phẩm chất quý này đã viết: “Cùng tắc biến, biến tắc thông”; Hoặc “Nhất dạ bá kế” - tức là nếu khó khăn bế tắc mà cứ chịu khó suy nghĩ thì một đêm sẽ có cả trăm kế.
- Biết làm việc và sử dụng các con người trong và ngoài hệ thống.
- Có sức lực làm việc bền bỉ, kiên nhẫn, chịu đựng: Công việc của người cầm đầu và các nhà lãnh đạo là tổ chức hệ thống hoạt động với muôn vàn biến động, rủi ro, bất chắc và thiếu hụt đòi hỏi phải có thời gian và sức chịu đựng dẻo dai (như sự cô độc, sự bất lực, sự phản bội, dối trá,..)
- Luôn lạc quan vui vẻ và truyền sự lạc quan, vui vẻ đó thành niềm tin vững chắc vào sự nghiệp cho mọi người trong hệ thống.
- Phải có một phong thái đàng hoàng, và nếu tốt nữa phải có một ngoại hình hấp dẫn. Thật là khó khăn khi người cầm đầu và người lãnh đạo có một diện mạo khó coi, thậm chí khuyết tật. Rõ ràng, một nhà lãnh đạo trông hình dạng khoan thai, sáng sủa, phúc hậu thì người khác dễ có cảm tình hơn khi tiếp xúc và làm việc.
e) Phải có đạo đức và tư duy đúng đắn, đây là yêu cầu cần có của người cầm đầu và các nhà lãnh đạo và cũng là một yêu cầu hết sức quan trọng. Đó là:
- Phải công bằng và trung thưc: công bằng là đạo lý là một yêu cầu của mọi con người trong mọi thời đại. Trong điều kiện ngày nay, công bằng là phải thực hiện đúng nguyên tắc phân phối theo lao động. Còn trung thực là thủ đoạn cao nhất trong cuộc sống.
- Có tư duy hệ thống, trong xem xét phân tích và giải quyết mọi vấn đề trong quá trình quản lý và xử lý các quan hệ con người trong hệ thống.
- Phải biết sống vì mọi người trong hệ thống, biết hy sinh và làm gương cho người khác. Phải có thiện chí với con người, cò lòng vị tha, độ lượng để dẫn dắt mọi người biết vì lợi ích chung của hệ thống.
- Có văn hoá và tôn trọng con người, tôn trọng các chuẩn mực giá trị của hệ thống, biết đặc mình vào tâm trạng người khác mà xử lý mọi việc, mọi vấn đề.
- Phải biết khiêm tốn, nhún nhường, tránh khoe khoang, hách dịch, lãng phí, tham ô.
- Phải biết khéo léo sử dụng mưu kế và nghệ thuật quản lý, nắm bắt tâm lý và tình thế biến động để có các quyết định đúng. Cảnh giác với kẻ xấu, tránh để kẻ xấu lợi dụng và làm vô hiệu hoá bản thân.
g) Người cầm đầu xuất chúng (lãnh tụ), là người lãnh đạo có tầm nhìn xa trông rộng, thấu suốt tương lai, dự đoán chuẩn xác. Đúng như Trần Hưng Đạo đã nói: “Tướng mà dùng nhân ái đối với kẻ dưới, lấy tín nghĩa phục nước láng giềng, trên biết thiên văn, dưới biết địa lý, giữa biết việc người, coi bốn biển như một nhà, đó là tướng chỉ huy cả thiên hạ, không ai địch được.
h) Người cầm đầu và lãnh đạo cần loại bỏ các thói xấu sau
- Thành kiến, đó kỵ, hẹp hòi dẫn tới không dùng được người giỏi, dùng người giỏi xem lẫn kẻ xấu, dùng người nhưng còn nghi ngờ và kiềm chế họ, kéo bè kéo cánh (bà con, thân hữu)
- Kiêu ngạo, thích làm lãnh tự, công thần địa vị dẫn tới coi thường người khác, không chịu nghe ai, cướp công cấp dưới, dung dưỡng bọ a dua, xiểm nịnh, lừa bạn, dối trên.
- Tham lam, hủ hoá dẫn tới tuỳ tiện, vô nguyên tắc, biến của công thành của riêng, lãng phí, xa hoa, inh hoạt hủ hoá trác táng bừa bãi.
- Chia rẽ, bất công dẫn tới độc ác, ích kỷ hại người, lẫn lộn đúng sai.
- Nói nhiều, hứa nhiều, hỏi nhiều nhưng không dám quyết và không thực hiện, làm cho người nghi ngờ, chán nản.
- Bảo thủ, trì trệ không dám đổi mới không dám mở rộng giao lưu đối ngoại bên ngoài.
Người lãnh đạo
Quyền lưc quản lý được tạo nên bởi các nhân tố:
- Sức mạnh của hệ thống, đặc biệt là sức mạnh trừng phạt của tổ chức
- Các nguồn lực vật chất, các lợi ích của hệ thống có để đem đến hoặc thu lại cho các cá nhân, các phân hệ và hệ thống.
- Sức mạnh của niềm tin của tri thức.
Những nguyên tắc sử dụng quyền lực:
- Quyền lực thường chứa trong nó sự phủ định, phản kháng
- Quyền lực chỉ được sử dụng có hiệu quả một khi nó phù hợp với phong cách của người lãnh đạo, và mục đích của người lãnh đạo
- Người lãnh đạo càng có nhiều khả năng vận dụng khai thác những nguồn gốcnày thì khả năng thành công trong lãnh đạo càng nhiều.
- Nhận thức về cơ sở quyền lực ảnh hưởng tới việc tăng cường quyền lực của cá nhân
- Quyền lực bị ảnh hưởng bởi sự khéo léo vận dụng những cơ sở này
- Quyền lực là không có giới hạn
- Quyền lực thể hiện ở hành động - người lãnh đạo là người hành động
- Người có khả năng ảnh hưởng người khác, chi phối được chiều hướng sự việc nhằm đạt kết quả thì người đó sẽ có người khác đi theo. Và đó là người lãnh đạo.
Thiết chế quản lý: Là phương thức tổ chức và nguyên tắc vận hành phân hệ chủ thể quản lý được thể hiện bởi hệ thống các vị thế, các vai trò, các chuẩn mực, các giá trị của hệ thống trong việc vận hành hệ thống nhằm đạt tới mục đích và mục tiêu đặt ra của hệ thống. Chức năng của thiết chế quản lý: thiết chế quản lý là nhằm thực hiện các nhiệm vụ quản lý đề ra, nó bao gồm các chức năng tổ chức, kiểm soát, và điều tiết toàn bộ các hoạt động của hệ thống. Đây cũng chính là chức năng của người cầm đầu và các cán bộ lãnh đạo trong quản lý.
Vị thế: nói chính xác hơn vị thế của một cá nhân trong hệ thống là địa vị, thứ bậc quyền lực mà cá nhân đó được hệ thống thừa nhận và tuân thủ. Trong hệ thống có con người tham dự, bao giờ cũng tồn tại một cấu trúc thứ bậc quyền lợi, mỗi cá nhân đều có một vị trí nhất định ở trong cấu trúc thang bậc đó bao gồm trách nhiêm, quyền hạn, lợi ích mà họ nhận được tương ứng với vị trí này.
Thiết chế quản lý chứa đựng trong nó một cấu trúc các vị thế của các con người trong hệ thống:
*Có người chiếm vị thế khống chế hệ thống vị thế then chốt với tư cách là Người cầm đầu (thủ lĩnh) là mô hình của hệ thống, họ đứng đầu hệ thống và chịu trách nhiệm về hệ thống mà họ phụ trách.
* Cũng có những người không chiếm vị trí cầm đầu hệ thống nhưng quyền lực vị thế của họ cũng không nhỏ và cũng đóng vai trò khá quan trọng trong sự điều hành hệ thống, hệ thống, họ là những cán bộ lãnh đạo (có vị thế quan trọng) đó là những người tham gia vào guồng máy quản lý, điều hành hệ thống, họ là những cán bộ và thường đứng đầu các phân hệ của hệ thống. Cùng với người cầm đầu họ HÌNH THÀNH LÊN NHÓM CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO.
* Nhóm những người tham gia vào guồng máy quản lý của hệ thống còn lại, có quyền lực ít ỏi nhưng rất cần thiết để đảm bảo ý đồ của các nhà lãnh đạo trở thành hiện thực => họ là cán bộ quản lý đóng vai trò truyền dẫn các ý chí quản lý của những nhà lãnh đạo.
+ Toàn bộ 3 loại cán bộ nói trên tạo thành đội ngũ cán bộ vận hành hệ thống
+ Vị thế của một cá nhân trong hệ thống là địa vị, là thứ bậc quyền lực của cá nhân đó được hệ thống thừa nhận một cách chính thức và trên danh nghĩa. VD: một Bộ trưởng đồng thời là một Viện sĩ khoa học, họ vừa có vị thế về mặt quyền lưch trong bộ máy chính quyền, vừa có vị thế trong lĩnh vực khoa học.
Vai trò: nói chính xác hơn, vai trò của cá nhân trong hệ thống (và ngoài môi trường) là vị thế thực tế của cá nhân đó, thể hiện thông qua nguồn lực thực tế và tác động thực tế (tác lợi và tác hại) mà họ gây ra cho hệ thống. Nói một cách khác, vai trò của một cá nhân là mức độ tác động thực tế của cá nhân đó đối với những người khác trong hệ thống.
Chuẩn mực (của hệ thống): là những yêu cầu, những tiêu chuẩn hành vi do hệ thống mong muốn, đặt ra và đòi hỏi mọi người phải tuân thủ trong suy nghĩ và hành động. Chuẩn mực của một hệ thống mang tính lịch sử, nó thể hiện thành quả tư duy của các con người trong hệ thống ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử, nó được lấy làm thước đo vai trò con người trong hệ thống. Chuẩn mực sẽ là hợp lý nếu nó phù hợp với mục đích và mục tiêu quản lý phù hợp với các đòi hỏi của các quy luật khách quan liên quan đến sự tồn tại và phát triển của hệ thống. VD: Chuẩn mực là sự giàu có của quốc gia
Giá trị (của hệ thống): là những tình cảm những thái độ, hành vi được chuẩn mực hệ thống đánh giá rất cao, rất quan trọng mà con người trong hệ thống hướng vào đó để hành động và đạt lấy. VD: đấu tranh cho độc lập tự do, xây dựng xã hội giàu có, văn minh, công bằng,...