Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2011

CỔ PHẦN HOÁ - TƯ NHÂN HOÁ

Tư nhân hoá thường được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Liên hợp quốc đã đưa ra quan niệm về tư nhân hoá theo nghĩa rộng: "Tư nhân hoá là quá trình biến đổi mối tương quan giữa Nhà nước và thị trường trong đời sống kinh tế của một nước theo hướng ưu tiên thị trường". Theo đó, toàn bộ chính sách, luật lệ và thể chế nhằm khuyến khích mở rộng và phát triển khu vực kinh tế tư nhân, giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, giành cho thị trường vai trò điều tiết ngày càng lớn... đều có thể được coi là biện pháp của tư nhân hoá.
Còn theo nghĩa hẹp, với đối tượng là doanh nghiệp, tư nhân hoá được giải thích theo hai nghĩa: Tư nhân hoá quản lý và tư nhân hoá sở hữu. Trường hợp Nhà nước vẫn năm quyền sở hữu vốn và tài sản, còn việc quản lý được giao cho tư nhân đảm trách theo những điều kiện thoả thuận giữa Nhà nước và tư nhân được coi là tư nhân hoá quản lý. Còn trường hợp Nhà nước bán doanh nghiệp của mình cho một chủ tư nhân, tức là chuyển sở hữu Nhà nước thành sở hữu tư nhân, thì được coi là tư nhân hoá sở hữu.
Trong khi đó ở nước ta, chủ trương cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà nước xuất phát từ đường lối kinh tế và đặc điểm kinh tế - xã hội ở nước ta trong giai đoạn chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là sự chuyển hướng chiến lược và cũng là đặc điểm lớn nhất quy định mục tiêu và phương thức cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Bởi vậy, việc cổ phần hoá ở nước ta là một trong những phương thức cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước cho hợp lý và hiệu quả hơn để chúng thực sự đóng vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế - xã hội. Hơn nữa, khi cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước Nhà nước bán toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp cho người lao động trong doanh nghiệp, cho các tổ chức hoặc các thể nhân ngoài doanh nghiệp. Quá trình đó là việc chuyển một bộ phận sở hữu của Nhà nước không phải cho một tư nhân để chuyển thành sở hữu tư nhân, mà cho một "tập thể" để chuyển thành sở hữu hỗn hợp. Ngoài ra, không phải toàn bộ các doanh nghiệp nhà nước đều được cổ phần hoá. Để bảo đảm giữ đúng và tăng cường vai trò của mình trong nền kinh tế hỗn hợp, không phải toàn bộ các doanh nghiệp nhà nước đều được cổ phần hoá. Để bảo đảm giữ đúng và tăng cường vai trò của mình trong nền kinh tế hỗn hợp, không phải Nhà nước tiến hành cổ phần hoá toàn bộ các doanh nghiệp nhà nước hiện có, mà vẫn giữ lại các doanh nghiệp trong các ngành then chốt, trọng điểm của nền kinh tế quốc dân. Tức là, để thực thi tốt hơn chức trách của mình, Nhà nước sẽ "nắm cái cần nắm và buông cái cần buông".
THH và cổ phần hóa là hai khái niệm khác nhau. Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi cơ cấu quản trị: từ doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần. Còn THH là quá trình chuyển đổi sở hữu: từ sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể sang sở hữu tư nhân. Như vậy, cổ phần hóa và THH sẽ có điểm gặp nhau khi quá trình thay đổi cơ cấu quản trị làm chuyển đổi cơ cấu sở hữu từ nhà nước sang tư nhân. Hiện nay, quá trình tư nhân hóa ở nước ta chưa diễn ra mạnh mẽ, nhưng đây sẽ là một làn sóng tất yếu trong tương lai không xa. Vì không cần chứng minh thì ai cũng biết sở hữu tư nhân là động lực cơ bản để phát triển kinh tế thị trường.
Tư hữu hóa ở Nga
Nhận thức rõ điều này, Chính phủ Nga ngay trong giai đoạn đầu cải cách 1990-1994 đã xem THH là một trong 4 nhiệm vụ cơ bản. Tuy nhiên, ngay từ đầu công cuộc THH ở Nga đã gây nhiều tranh cãi. Các nhà cải cách đứng trước hai lựa chọn. Một, sẽ tiến hành THH từ từ, từng bước, trao tài sản vào tay chủ sở hữu mới, thực sự sử dụng tài sản hiệu quả, với giá cao nhất có thể. Hai, tiến hành THH “chớp nhoáng”, nhanh chóng, phân phát không tài sản quốc hữu cho toàn dân. Dĩ nhiên, ai cũng hiểu cách làm thứ nhất sẽ mang lại cho quốc gia nhiều lợi ích hơn, nhưng nó lại đòi hỏi thời gian và một hệ thống chính trị ổn định. Cả hai thứ mà vào thời điểm đó (1990-1991) nước Nga non trẻ đều không có. Dưới nhiều áp lực về kinh tế, chính trị, thậm chí không ngoại trừ động cơ cá nhân và tác động mạnh mẽ của phương Tây, các nhà cải cách trẻ ở Nga đã quyết định lựa chọn phương án hai.
Kết quả là từ năm 1992-1994 trên toàn Nga đã có 125.514 doanh nghiệp nhà nước đăng ký THH, trong đó đã thực hiện chuyển đổi sở hữu được 88.814 doanh nghiệp. Nhà nước thu về 760 tỷ rúp (tương đương – 3.7 tỷ USD với giá cuối năm 1992) – một con số quá ít ỏi so với giá trị thực của tổng tài sản đã đưa ra chào bán. Sở hữu của nhà nước được chia nhỏ cho một nhóm người, tạo nên một giới kinh tế thượng lưu bao gồm các nhà tài phiệt và các ông trùm kinh tế “đen”. Có thể nhận thấy rõ điều này khi phân tích dữ liệu về thu nhập và tích luỹ xã hội. Theo đó 5% dân số thuộc tầng lớp giàu và rất giàu chiếm 73% tích luỹ toàn xã hội và 80% ngoại tệ lưu hành dưới dạng tiền mặt. Chênh lệch trong thu nhập giữa tầng lớp giàu – nghèo có lúc lên đến hàng nghìn lần (1360 lần theo số liệu năm 1997). Việc hóa giá các tài sản quốc gia, cố tình tạo quá trình phá sản ảo để giảm giá thành các nhà máy, tổ hợp kinh tế nhà nước đã trở thành bước đi quen thuộc của quá trình THH. Ví dụ: Tập đoàn khí đốt lớn nhất thế giới ROS “Gazprom” được định giá khoảng 300 tỷ rúp (tương đương 12 tỷ USD, trong khi giá của công ty Mỹ tương đương “Chevron Corp.” là 123 tỷ); ngân hàng tín dụng “Sberbank”, với hàng nghìn chi nhánh trên khắp nước Nga được đánh giá bằng 230 triệu USD, trong khi chi phí ngân hàng này bỏ ra để xây dựng trụ sở chính tại đường 60 năm Cách mạng tháng 10, Matxcơva (chỉ là một trong hàng nghìn trụ sở) đã vượt quá con số 300 triệu USD (!!!).
Điều đáng lưu ý là quá trình THH đã đưa đến kết cục: toàn bộ số lợi tức từ sử dụng tài nguyên thiên nhiên của Nga tập trung trong tay các nhà tài phiệt, các tập đoàn tài chính thân Chính phủ hoặc các tổ chức kinh tế “đen” – lực lượng này chiếm khoảng 7-10% dân số đất nước.
Bài học cho Việt Nam
Tất nhiên, hoàn cảnh kinh tế, chính trị của nước ta hôm nay khác nhiều so với nước Nga vào những năm 1990. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta không học hỏi được gì từ những kinh nghiệm xương máu trong quá trình THH của nước Nga xa xôi. Những bài học đó là gì?
THH chỉ là công cụ chứ không thể là mục đích. THH trên con đường phát triển kinh tế thị trường, tự do hóa thương mại và hội nhập quốc tế là công việc tất yếu cần làm. Nhưng THH chỉ là một trong số nhiều công cụ để chúng ta tìm và tạo cho được các chủ sở hữu làm việc hiệu quả vì lợi ích cộng đồng. Việc chúng ta quên đi nhiệm vụ chính của quá trình THH là tìm cho được chủ sở hữu có đủ năng lực sử dụng tài sản quốc gia hiệu quả nhất là một sai lầm nghiêm trọng.
Muốn THH thành công cần thiết lập được một cơ chế định giá tài sản minh bạch và công khai. Việc hàng nghìn doanh nghiệp nhà nước của Nga đã được định giá thấp hơn hàng chục lần so với giá trị thực khi đem ra đấu giá là một minh chứng hùng hồn. Điều này đặc biệt quan trọng đối với hoàn cảnh kinh tế nước ta hiện nay. Các bạn chắc còn nhớ kết quả xếp hạng về chỉ số minh bạch của thị trường bất động sản (REIT-2006) do LaSalle Investment Management/Jones Lang LaSalle công bố cách đây không lâu. Theo đó, Việt Nam được xếp vào hàng thấp nhất của khu vực châu Á- Thái Bình Dương, đạt 4.69 điểm – thuộc loại không minh bạch (hạng dưới cùng của bảng xếp hạng). Mà bất động sản chỉ là một lĩnh vực trong vô số các lĩnh vực “nhạy cảm” khác còn chưa có điều kiện và khả năng để xếp hạng như: đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm…
Tích lũy tư bản và trách nhiệm đối với lợi ích cộng đồng. Nếu chính phủ không hình thành được một cơ chế kiểm soát hữu hiệu thì có thể dễ dàng hình thành lên một lớp chủ sở hữu tư nhân mới, giàu có nhưng chỉ biết lo cho túi tiền của mình và hoàn toàn vô trách nhiệm (nếu không nói là quay lưng lại) với sự phát triển của cộng đồng. Điều này đặc biệt rất dễ xảy ra nếu một lúc nào đó chúng ta quyết định THH các doanh nghiệp khai thác tài nguyên thiên nhiên. Lợi tức có được từ khai thác khoáng sản sẽ không quay lại phục vụ cộng đồng mà thông thường sẽ được chuyển ra nằm im tích lũy ở các ngân hàng nước ngoài.
Chỉ giao tài sản vào tay những người chủ hiểu, quí trọng và biết cách ứng xử với tài sản. Mơ ước sau một đêm sẽ hình thành hơn 40 triệu chủ sở hữu của A. Chubaiz đã không thể thành hiện thực, bởi một lý do hết sức đơn giản. Làm chủ cũng là một nghề, mà là một nghề không đơn giản. Muốn làm chủ hiệu quả thì ngoài rất nhiều yếu tố cần thiết khác, người chủ trước hết phải biết quí trọng và hiểu được giá trị tài sản mà mình đang sở hữu. Và quan trọng hơn chính anh ta phải bỏ sức lao động ra để có được tài sản đó.
Quan hệ giữa nhóm lợi ích, giới quan chức và người dân. THH là một quá trình phức tạp, liên quan đến những tài sản khổng lồ. Lợi ích càng nhiều, nhóm lợi ích càng đa dạng và phong phú. Kết quả THH sẽ biến dạng hoàn toàn nếu các nhóm lợi ích cá nhân này phối hợp chặt chẽ, cùng chia sẻ quyền lợi với giới quan chức tham nhũng. Tài sản quốc gia sẽ dễ dàng trao không một cách đàng hoàng vào tay chủ sở hữu mới bất chấp lợi ích cộng đồng. Quá trình THH ở Nga đã diễn ra gần như thế và kết quả thế nào thì các bạn đã thấy. Và đây cũng là điều mà chúng ta lo ngại nhất. Nền kinh tế thiếu minh bạch, tham nhũng không thể đẩy lùi, vận động hành lang trục lợi ngấm ngầm nhưng mạnh mẽ… đó là những dấu hiệu của một môi trường không thuận lợi chút nào cho quá trình THH.
Có thể thấy, quá trình THH ở nước ta hiện nay đang đi theo một lộ trình khác hẳn với nước Nga. Nhưng như thế không có nghĩa là chúng ta sẽ không gặp phải những vấn đề như người Nga đã từng gặp.
Source: www.tiasang.com.vn

Thứ Năm, 6 tháng 1, 2011

LỚP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO DOANH NGHIỆP- LỚP V100

CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ
DOANH NGHIỆP

Chương trình được biên soạn và thiết kế bởi các Giảng viên cao cấp của Đại học Kinh tế Quốc dân, Viện Nghiên cứu và Đào tạo Môi trường Quản lý, Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I với tiêu chí “Thực tiễn - Linh động - Hiện đại”, hướng tới sự Chuyên nghiệp - Thành đạt cho các doanh nhân.

I. MỤC TIÊU ĐÀO TẠO

Khoá học cung cấp các kiến thức và kỹ năng nền tảng về quản trị doanh nghiệp, đồng thời chú trọng vào phân tích thực tiễn các hoạt động của doanh nghiệp, từ đó xây dựng cho học viên:
- Có tầm nhìn và khả năng xây dựng các chiến lược phù hợp với nhu cầu thay đổi và phát triển của doanh nghiệp
- Có khả năng phân tích và giải quyết các vấn đề nội tại cũng như các vấn đề bên ngoài tác động vào doanh nghiệp.
- Có khả năng áp dụng các phương pháp, mô hình, bài học kinh doanh một cách linh hoạt, sáng tạo.

II. ĐỐI TƯỢNG HỌC VIÊN

- Cấp lãnh đạo doanh nghiệp: Bí thư Đảng uỷ, Hội đồng quản trị, Hội đồng tư vấn, Ban Tổng Giám đốc, Ban Giám đốc;
- Đội ngũ quản lý cấp trung của các Doanh nghiệp: Các Giám đốc chức năng, các Trưởng/Phó các Phòng/ Ban/Bộ phận trong Doanh nghiệp.
- Những người có hoài vọng trở thành một Giám đốc Điều hành chuyên nghiệp, toàn diện trong tương lai.

III. PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO

- Phương pháp học thông qua hành động và học thông qua kinh nghiệm: Các bài tập và các trò chơi mô phỏng các tình huống kinh doanh, các bài tập đóng vai, các chuyến đi thực tế thu thập số liệu, các cuộc thảo luận sôi nổi, các bài tập động lực nhóm …

IV. GIẢNG VIÊN
- Giảng viên của chương trình là các chuyên gia có trình độ và kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo cũng như trong hoạt động tư vấn và quản trị doanh nghiệp.

V. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH

Module 1: Lãnh đạo trong bối cảnh mới
• Phong cách lành đạo: Bối cảnh cho thập kỷ tới
• Toàn cầu hóa
• Phong cách lãnh đạo và bối cảnh văn hóa của nó
• Sự khác biệt giữa quản lý và lãnh đạo
• Vai trò của quản lý
• Vai trò của lãnh đạo
• Nhận thức để thay đổi
• Nghệ thuật xây dựng thương hiệu cá nhân
• Những nguyên tắc truyền lửa của một CEO chuyên nghiệp
• Lãnh đạo bản thân, xây dựng phong cách lãnh đạo chuyên nghiệp
• Tố chất của người lãnh đạo chuyên nghiệp

Module 2: Kỹ năng hoạch định và thực thi chiến lược kinh doanh
• Tầm nhìn chiến lược
• Các chiến lược cạnh tranh cơ bản
• Xác định tầm nhìn, sứ mệnh của công ty
• Phân tích môi trường bên ngoài, xác định cơ hội và thách thức
• Phân tích mô hình 5 tác lực - Quyết định sự cạnh tranh trong ngành
• Phương pháp tảng băng chìm
• Đánh đổi và sự lựa chọn
• Sức mạnh tổng lực: Nghiên cứu & phát triển; thiết kế sản phẩm; Dịch vụ; Quy trình sản xuất; Marketing & bán hàng; Dịch vụ & chăm sóc khách hàng
• Sử dụng công cụ SWOT phân tích và lựa chọn chiến lược.

Module 3: Quản trị nhân sự
• Thiết lập cơ cấu nhân sự phù hợp
• Bí quyết tuyển dụng và giữ chân người tài
• Tâm lý nhân viên và những vấn đè cần lưu ý
• Tạo động lực làm việc cho nhân viên
• Công cụ phân tích động lực
• Vai trò của doanh nghiệp
• Vai trò của người quản lý
• Một số giải pháp tạo động lực

Module 4: Quản trị Marketing trong bối cảnh mới
• Xu hướng Marketing hiện nay: Định nghĩa Marketing; Quy trình Marketing; Marketing & thoả mãn khách hàng; Toàn cầu hoá & vai trò của công nghệ đối với Marketing.
• Tìm kiếm cơ hội kinh doanh qua việc sử dụng một số công cụ như: nghiên cứu Marketing, phân tích môi trường, phân tích SWOT, 5F, PPM.
• Phương pháp định vị để phát triển bền vững: STP
• Ứng dụng Chiến lược Marketing hỗn hợp để nhận biết cơ hội kinh doanh & bài học kinh nghiệm từ một số tình huống Marketing thực tiễn.
• So sánh hệ thống quản trị và hệ thống kinh tế của Mỹ & Nhật bản, của nền kinh tế kế hoạch & nền kinh tế thị trường.
• Chiến lược Marketing trong thời đại mới: nguyên lý Marketing để chiến thắng, công cụ/phương pháp Marketing ưu việt, Marketing thế hệ kế tiếp.
• Đề xuất chiến lược Marketing phù hợp với thị trường Việt nam.

Module 5: Kỹ năng điều hành cuộc họp, hội thảo
• Kỹ năng điều hành cuộc họp, hội thảo hiệu quả.
• Những tiêu chí đánh giá sự thành công cuộc họp, hội nghị, hội thảo.
• Các kỹ năng giao tiếp được sử dụng trong các cuộc họp, hội nghị, hội thảo: kỹ năng thuyết trình, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng xử lý thông tin, kỹ năng tổng kết vấn đề và kỹ năng chuyển đổi thuật ngữ.
• Nguyên nhân dẫn đến cuộc họp, hội nghị, hội thảo kém hiệu quả.

Module 6: Kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định
• Qui trình giải quyết vấn đề
• Vấn đề là gì?
• Qui trình giải quyết vấn đề
• Xác định vấn đề
• Phát hiện vấn đề
• Mô tả vấn đề
• Phát biểu vấn đề
• Xác định nguyên nhân
• Các công cụ tìm nguyên nhân
• Tìm và thực thi giải pháp
• Xác định mục tiêu
• Tìm các phương án – Các công cụ
• Đánh giá và lựa chọn giải pháp – các công cụ
• Thực thi giải pháp

Module 7: Kỹ năng giao tiếp trong công việc
• Khái quát về qui trình giao tiếp
• Tầm quan trọng và các yếu tố ảnh hưởng
• Các loại hình giao tiếp trong công việc
• Các kênh giao tiếp tại nơi làm việc
• Để tăng hiệu quả giao tiếp trong công việc
• Các kỹ năng thiết yếu trong giao tiếp
• Kỹ năng đặt câu hỏi và lắng nghe
• Kỹ năng cho và nhận phản hồi
• Kỹ năng thuyết phục

Module 8: Văn hoá doanh nghiệp
• Khái niệm văn hoá doanh nghiệp
o Các cách tiếp cận văn hoá doanh nghiệp
o Định nghĩa văn hoá doanh nghiệp
• Vai trò và các yếu tố của văn hoá doanh nghiệp
o Tại sao phải xây dựng văn hoá doanh nghiệp
o Hành vi con người với văn hoá doanh nghiệp
o Văn hoá và sự trường tồn của doanh nghiệp
o Những gì làm nên văn hóa doanh nghiệp?
• Văn hóa doanh nghiệp Đông-Tây
• Các mô hình văn hoá doanh nghiệp
o Mô hình phân lớp văn hoá doanh nghiệp
o Mô hình hành vi
o Mô hình tổng thể
• Vai trò của lãnh đạo trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp
• Các bước xây dựng văn hoá doanh nghiệp.
• Kế hoạch hành động

Module 9: Kế toán và lựa chọn các quyết định tài chính
• Thông tin kế toán phục vụ quản lý
• Tổng quan hệ thống báo cáo tài chính
• Báo cáo tài chính của các dạng công ty khác nhau
• Các nguyên tắc lập báo cáo tài chính
• Đọc, hiểu và phân tích các báo cáo tài chính
• Kỹ thuật kiểm tra tính chính xác của các BCTC
• Tổng quan về quản trị tài chính.
• Phân tích báo cáo tài chính.
• Ý nghĩa các chỉ số tài chính
• Vốn và các kênh huy động vốn
• Vốn và sự bí ẩn của vốn
• Lựa chọn các quyết định tài chính
• Sử dụng quyền lực tài chính của Giám đốc

Thông tin liên hệ:
VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠO MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ
Đ/c: Phòng 705, Nhà A5, Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
Điện thoại: (04) 3.8544439

1. PGS.TS Nguyễn Cúc; Mobile: 091323.3636

2. TS Hoàng Văn Hoan; Mobile: 091.323.05.03
Email: hoanhvct@gmail.com

LỚP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ
DOANH NGHIỆP

Chương trình được biên soạn và thiết kế bởi các Giảng viên cao cấp của Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I và Viện Nghiên cứu và Đào tạo Môi trường Quản lý với tiêu chí “Thực tiễn - Linh động - Hiện đại”, hướng tới sự Chuyên nghiệp - Thành đạt cho các doanh nhân.

I. MỤC TIÊU ĐÀO TẠO

Khoá học cung cấp các kiến thức và kỹ năng nền tảng về quản trị doanh nghiệp, đồng thời chú trọng vào phân tích thực tiễn các hoạt động của doanh nghiệp, từ đó xây dựng cho học viên:
- Có tầm nhìn và khả năng xây dựng các chiến lược phù hợp với nhu cầu thay đổi và phát triển của doanh nghiệp
- Có khả năng phân tích và giải quyết các vấn đề nội tại cũng như các vấn đề bên ngoài tác động vào doanh nghiệp.
- Có khả năng áp dụng các phương pháp, mô hình, bài học kinh doanh một cách linh hoạt, sáng tạo.

II. ĐỐI TƯỢNG HỌC VIÊN

- Cấp lãnh đạo doanh nghiệp: Bí thư Đảng uỷ, Hội đồng quản trị, Hội đồng tư vấn, Ban Tổng Giám đốc, Ban Giám đốc;
- Đội ngũ quản lý cấp trung của các Doanh nghiệp: Các Giám đốc chức năng, các Trưởng/Phó các Phòng/ Ban/Bộ phận trong Doanh nghiệp.

III. GIẢNG VIÊN
- Giảng viên của chương trình là các chuyên gia có trình độ và kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo cũng như trong hoạt động tư vấn và quản trị doanh nghiệp.

IV. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
Module 1: Kỹ năng hoạch định và thực thi chiến lược
- Tầm nhìn chiến lược
- Kỹ năng hoạch định và lựa chọn chiến lược
- Phương pháp tảng băng chìm
- Đánh đổi và sự lựa chọn
Module 2: Kỹ năng giao tiếp ứng xử
- Thuyết trình
- Giao tiếp, ứng xử, quan hệ
- Kỹ năng đàm phán, ký kết các hợp đồng kinh tế
Module 3: Kỹ năng lựa chọn các quyết định tài chính
- Vốn và sự bí ẩn của vốn
- Lựa chọn các quyết định tài chính
- Sử dụng quyền lực tài chính của Giám đốc
Module 4: Văn hóa doanh nghiệp và doanh nhân
- Xây dựng bản sắc văn hóa doanh nghiệp
- Các kỹ năng tạo cộng đồng gắn bó
- Đạo đức và trách nhiệm xã hội của doanh nhân
- Các triết lý về văn hóa doanh nghiệp
Module 5: Báo cáo những tác động sau 3 năm gia nhập WTO và thông điệp đối với doanh nghiệp
- Đối thoại nhóm
- Làm bài tập tình huống
- Hội thảo tập thể tại hội trường
- Tổng kết, trao chứng chỉ

V. CHỨNG CHỈ
- Chứng chỉ tốt nghiệp Khóa học được Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I cấp
Mọi liên hệ xin gửi về địa chỉ:
VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠO MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ
Số 15, đường Khuất Duy Tiến, Thanh Xuân, Hà Nội
1. PGS.TS Nguyễn Cúc; Mobile: 0913233636
2- TS. Hoàng Văn Hoan; Mobilel 091.323.0503, Email: hoanhvct@gmail.com

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

Hỡi đồng bào cả nước,

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

HAI CHIẾC LÁ

Hai chiếc lá

Mùa thu đến rồi
lá rụng nơi nơi
Gió thổi vi vu
Cùng tiếng chim hót


Trên cây bằng lăng
Đã trụi hết lá
Chỉ còn để lại
Hai chiếc lá nhỏ


Hai chiếc lá nhỏ
Rung ring trong gió
Như muốn ca hát
Như chào mùa thu

Nguyên Trang - lớp 4A - Trường Tiểu học Đặng Trần Côn A

ĐẤT NƯỚC TÔI

Đất nước tôi nhỏ
nhưng chân tình đoàn kết
Đất nước tôi nghèo
nhưng ý chí vững vàng

Một mái nhà đơn sơ
nhưng tấm lòng rộng mở
Một nhà không đẹp
nhưng vững chắc, vững bền


Đất nước ơi sao yêu thế
Từng ngày lớn lên
là một ngày đổi mới
Tôi yêu đất nước tôi


Nguyên Trang - lớp 4A - Trường Tiểu học Đặng Trần Côn A

Thứ Tư, 29 tháng 12, 2010

KHỔNG TỬ

Khổng tử đã chỉ ra rằng lòng tốt là gồm cả hai một tư tưởng chính trị và một tiêu chuẩn đạo đức. Lòng tốt nhấn mạnh việc chăm lo cho người khác và chú trọng tư tưởng về lòng trung thành và sự khoan dung tha thứ. Một tư tưởng như vậy đã có một ảnh hưởng sâu rộng đến đạo đức truyền thống Trung Hoa về lương thiện, trung thực, nhẫn nại và khoan dung. Nó vẫn có ý nghĩa sâu sắc trong xã hội ngày nay.
Lòng chân thành, chân thật là cơ sở nền tảng đầu tiên quan trọng nhất

Một lần khi Khổng Tử đang thảo luận cách đối nhân xử thế với những học trò của ông, Zily nói: “Nếu người khác đối xử tốt với con, đổi lại con cũng sẽ đối xử tốt với họ; Nếu họ không tốt với con, con cũng sẽ không tốt với họ.”
Khổng Tử đã luận: “Đây là cách xử thế của những người không tốt.”
Zigong nói: ” Nếu người khác đối xử tốt với con, con sẽ đáp lại tốt với họ; Nếu họ không tốt với con, con sẽ hướng dẫn họ đến cái tốt.”
Khổng Tử đã luận: “Đây là cách xử thế giữa những người bạn.”
Yanzi nói: “Nếu người khác đối xử tốt với con, con sẽ tốt với họ; Nếu họ không tốt với con, con cũng sẽ tốt với họ và dẫn họ đến cái tốt.”
Khổng Tử đã luận: “Đây là cách xử thế trong gia đình và người thân. Nếu các con có thể mở rộng tư tưởng và đối xử với tất cả mọi người trong thế giới này bằng lòng chân thành, thành thật, nó sẽ thực sự tốt!”
Đối xử với người khác bằng lòng tốt lương thiện
Yanzi đã hỏi Khổng Tử: “Làm sao con có thể đạt được mục tiêu đối xử với người khác bằng lòng tốt? con mong ước con có thể làm được việc đối xử với mọi người như nhau bất kể họ giàu hay nghèo; can đảm mà không hiển thị khoe khoang mình dũng cảm; làm bạn chỉ với những người có mục đích cao quý và tránh gian khổ suốt cuộc đời. Điều đó có đúng không?”
Không Tử nói: ” Để là người tốt, một người cần phải tu thân và liên tục nâng cao đạo đức bản thân. Điều mà con nói là tốt. Đối xử như nhau cho dù họ giàu hay nghèo, con sẽ thấy hài lòng và không bị điều khiển bởi ham muốn dục vọng. Hành xử như nhau bất kể con ở địa vị cao hay là người dân bình thường, con sẽ luôn luôn khiêm tốn và lịch sự. Can đảm mà không hiển thị khoe khoang lòng dũng cảm, con sẽ đối xử với mọi người bằng lòng kính trọng. Làm bạn với những người có mục đích cao quý và tránh gian khổ suốt cuộc đời, con có thể lựa chọn những người bạn của mình, con sẽ thận trọng trong lời nói và hành động mình. Đây là một mục đích rất tốt!”
Cách cai trị
Qi Gaoting đã hỏi Khổng Tử : “con đã đi một đoạn đường dài và đã trải qua nhiều khó khăn thử thách, mặc quần áo sờn rách và mang quà đến cho thầy, con đến với hy vọng rằng thầy có thể dạy con cách phò tá hoàng đế cai trị đất nước.”
Khổng Tử đã nói: “Hãy dựa vào những nguyên tắc luân lý đạo đức và công bằng, Ngay cả khi xúc phạm đến hoàng đế, con cũng không thể từ bỏ sự chính trực và những nguyên tắc đạo đức. Phò tá hoàng đế không có nghĩa là làm mọi việc cho hoàng đế, mà là làm việc cho đất nước và cho người dân dưới sự cai trị của hoàng đế. Tóm lại là làm những việc chân chính và phò tá hoàng đế truyền bá lòng tốt lương thiện. Con cần phải đối xử với mọi người bằng lòng chân thành. Con cần phải làm một tấm gương tốt và ngay thẳng công bằng. Tiến cử những người có khả năng với hoàng đế đồng thời loại đi những kẻ xấu xa; loại bỏ phần xấu ra khỏi bản thân con và cùng với hoàng đế sống theo luật pháp và chuẩn mực đạo đức. Con cần phải thông minh nhưng cẩn thận trong lời nói và hành động; tu thân và dẫn dắt người dân sống theo lòng tốt lương thiện. Nếu con có thể làm như vậy, con có thể giống như một đạo hữu bên cạnh hoàng đế ngay cả khi con ở cách xa ông ấy ngàn dặm. Nếu không, con không thể làm được điều đó ngay cả khi con ở ngay bên cạnh ông ta.”
Khổng Tử nói rằng một người cần phải tu thân để đối xử tốt với người khác. Đối xử với người khác không phải là mục đích, mà mục đích là thăng tiến bản thân đến một tầng cao hơn. Khổng Tử xem trung, nghĩa, trí và tín là những điều kiện tiên quyết để là một người cao quý. Một người cao quý có thể đạt đến “từ bi” qua tự phê bình và đối xử với người khác bằng lòng tốt và khoan dung. Một người cao quý sẽ duy trì đạo đức cao trong bất kể tình huống nào và sẽ giữ tâm anh ta trong sạch, đối xử tốt với mọi người và trân quý sinh mệnh. Cho dù họ giàu hay nghèo, anh ta sẽ không bị dao động. Quyền lực và sự ép buộc cũng không ảnh hưởng anh ta được.



Sách Liệt Tử đã chép rằng :

“Tử Hạ hỏi Khổng Tử :
- Nhan Hồi là người như thế nào ?
Khổng Tử nói :
- Cái nhân của Hồi hơn ta.
Tử Hạ lại hỏi :
- Tử Cống là người như thế nào ?
- Cái mau mắn của Tử hơn ta.
- Tử Lệ là người như thế nào ?
- Cái dũng của Do hơn ta.
- Tử Trương là người như thế nào ?
- Cái vẻ trang nghiêm của Sử hơn ta.

Tử Hạ lấy làm lạ, đứng dậy thưa :"Vậy thì tại sao bốn người ấy lại còn theo thầy mà học ?"

Khổng Tử nói : "Lại đây ta bảo cho, Hồi chỉ biết nhân mà không biết lúc bất nhân; Tử chỉ biết mau mắn mà không biết chậm chạp. Do chỉ biết hùng dũng mà không biết nên nhút nhát; Sử chỉ biết trang nghiêm mà không biết lúc ung dung để hoà đồng với mọi người. Nay gồm tất cả những cái hay của bốn người ấy có mà đổi với cái ta có, ta không đổi. Bởi vậy, họ phải thờ ta làm thầy !”

Vậy mới hay Khổng Tử đã thấu suổt cái nguyên tắc quan trọng nhất trong đạo xử thế là phải biết biến: “Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cử”(có biến mới có thông, có thông mới lâu bền được). Phải biết tuỳ cơ mà biến thông cho hợp thời trung tiết…nếu chỉ khư khư, nhất mực…dẫu hay đến mấy cũng hỏng việc. Mục đích thì có một nhưng có cả ngàn cách để đạt mục đích ấy, vấn đề là tìm xem cách nào hợp với khả năng mình nhất, có hiệu quả nhất.

Dùng lòng chân thành làm căn bản

Có một lần, Khổng Tử và các học trò của ông bàn luận về cách đối xử với người.

Tử Lộ nói: “Nếu người khác dùng thiện ý đối xử với con, con cũng đối xử tốt với họ; nếu họ đối xử không tốt với con, con cũng sẽ không tốt với họ.”

Khổng Tử phê bình cách này: “Đây là cách làm của những người không có đạo đức lễ nghiã.”
Tử Cống nói: “Nếu người khác dùng thiện ý đối xử với con, con sẽ đáp lại tốt với họ; Nếu họ không đối xử tốt với con, con sẽ chỉ dẫn cho họ theo hướng thiện.”

Khổng Tử bình luận cách này: “Đây là cách nên làm giữa những người bạn”.

Nhan Tử nói: “Nếu người khác dùng thiện ý đối xử với con, con cũng đối xử tốt với họ; Nếu người khác không đối xử tốt với con, con vẫn dùng thiện ý đối tốt với họ, và chỉ dẫn họ theo hướng thiện.”

Khổng Tử bình luận cách này: “Đây là cách nên làm giữa thân nhân. Nếu các con có thể mở rộng tư tưởng và đối xử với tất cả mọi người trong thiên hạ bằng lòng chân thành, thì mới thực sự là dùng thiện tâm để đối xử với người!”

Dùng nhân nghĩa để đối xử với người

Nhan Tử đã hỏi thầy Khổng Tử rằng: “Thưa, con muốn đối xử với người bằng lòng “nhân từ”, thì phải làm thế nào mới có thể đạt được như vậy? Con hy vọng chính mình có thể đối xử với mọi người đồng đều cho dù họ nghèo nàn hay giàu có; bản thân không có ý biểu lộ mình dũng cảm đến mấy nhưng lại có sự uy nghiêm; chỉ giao du với những nhân sĩ có chí hướng, và suốt đời không có hoạn nạn, thưa Thầy, như vậy có được không?”

Khổng Tử trả lời: “Muốn đạt đến mức đối xử với người bằng lòng nhân từ, trước hết phải làm được chuyện tu sửa bản thân mình, không ngừng nâng cao sự tu dưỡng đạo đức của chính mình đồng thời nâng cao cả cảnh giới tư tưởng. Những lời nói vừa qua của con cũng khá tốt, lúc nghèo nàn hay giàu có cũng như nhau, thì con có thể biết được mình đầy đủ mà không chạy theo những thứ ham muốn dục vọng. Khi ở chỗ cao quý hay thấp hèn cũng như nhau, thì con có thể luôn luôn khiêm nhường mà lại có lễ nghiã. Không có ý biểu lộ bản thân dũng cảm đến mấy mà lại có sự uy nghiêm, thì con có thể cung kính đối xử với người mà không bị sai lầm đối với họ. Giao thiệp với những nhân sĩ có chí hướng, suốt đời không có hoạn nạn, thì con có thể cẩn thận lựa chọn bạn bè, lựa chọn những lời cần nói và những việc cần làm. Đây là chí hướng rất to lớn!”

Đạo lý chính trị

Tề Cao Đình đến hỏi Khổng Tử rằng: “Thưa Ngài, tôi không quản ngại núi cao xa xôi cách trở, áo quần sờn rách mà mang lễ vật đến bái kiến Ngài, trong lòng thật sự có thành ý, kính mong Ngài chỉ dạy cho cách giúp vua cai trị quốc gia.”

Khổng Tử nói: “Hãy giữ vững những nguyên tắc về đạo lý chân chánh, cho dù có phải mạo phạm đến quân vương, cũng không thể buông bỏ những nguyên tắc về chánh đạo. Bầy tôi thờ vua, kỳ thực không phải vì vua mà làm, mà chỉ vì quốc gia và dân chúng ở dưới vua mà làm, làm vì nước vì dân. Rốt cuộc là vì thực hành sự nhân nghiã, mà phụ trợ quân vương thi hành nền chính trị nhân từ. Khi đối xử với bất cứ người nào, không nên có lòng chán chường, mà phải dùng lòng chân thành đối xử với nhau. Lời nói và hành vi của bản thân, trước tiên, phải kiên trì tuân theo đạo nghiã; khi biết được người quân tử, nên cố gắng tiến cử họ; hễ phát hiện kẻ tiểu nhân thì nên làm cho họ rời xa quân vương; bỏ đi lòng tà ác của mình mà chân thành dựa theo lễ nghiã đối xử với vua. Làm việc cần phải bén nhạy và cẩn thận trong lời nói lẫn hành động, chiếu theo lễ nghĩa mà tu dưỡng bản thân mình, và làm cho thiên hạ cũng theo hướng lễ nghĩa. Được như vậy, thì sẽ giống như anh em của hoàng thượng cho dù bản thân có ngàn dặm cách xa vua. Nếu chỉ nói mà không làm, hay hành vi không cần mẫn, lại không dựa theo lễ nghĩa đối xử với mọi người thì cho dù ở cạnh bên vua cũng e rằng không làm nên chuyện gì cả.”

Khổng Tử còn nói, khi đối xử với mọi người phải từ cái đạo lý làm người mà nói. Mục đích không phải là đối xử với mọi người cho tốt, mà chính là để nâng cao cảnh giới của chính bản thân mình. Khổng Tử xem Lễ, Nghĩa, Tốn (khiêm tốn), và Tín là những phẩm chất mà người quân tử phải mang theo. Người quân tử thông qua việc kiểm điểm bản thân mà có thể nhận thức được lòng nhân từ, rồi giữ nhân từ trong lòng mình mà đối xử với người khác bằng sự khoan dung, và thực hành điều nhân nghĩa. Bất cứ lúc nào cũng nêu cao tiêu chuẩn đạo đức mà làm thành những nguyên tắc đối xử ở đời của con người; giữ vững tấm lòng trong sạch mà thiện hoá người khác, và trân quý sinh mệnh, phú quý không thể làm mê loạn tư tưởng của họ, nghèo nàn cũng không thể sửa đổi hành vi phẩm chất thường ngày của họ, uy vũ cũng không thể khuất phục ý chí của họ, như vậy mới làm một người chính nhân quân tử.


Tử Trương (Zi Zhang), một học trò của Khổng Phu Tử, hỏi Đức Khổng Tử đạo lý về chính trị và chấp chính. Khổng Phu Tử giảng, “Người Quân tử trị vì dân chúng, không nên thiết lập những tiêu chuẩn quá cao. Không nên thuyết dụ nhân dân bằng những mục đích quá xa vời thực tế. Đừng cưỡng chế họ làm những việc mà họ không có khả năng. ”

Tử Trương đáp, “Học trò thành thẩn tiếp thụ giáo huấn”.

Khổng Phu Tử giảng thêm: “Trò nhất định phải nhớ, nước trong thì không có cá, Người thấy nhiều thứ quá rõ ràng thì không có người theo. Ngày xưa, vương miện (mũ, nón) của các Hoàng Đế thường có các chuổi ngọc rũ xuống che khủ khuôn mặt. Đấy là để họ không nhìn quá rõ mọi thứ. Họ trang trí cho che kín lỗ tai để không nghe được quá nhiều điều. Một khi trong dân chúng xuất hiện yêu tặc nổi dậy, vị Hoàng Đế sẽ chấn chính lại tình huống. ”

Trương Tử nghe xong thành khẩn nói: “Thầy giảng thật uyên thâm”.

Khổng Phu Tử cũng giảng: “Chúng ta nên khoan dung (chấp nhận) nhiều chính sách để người ta có thể tự thấy những chỗ không toàn vẹn của mình. Trò nên truyền giảng những nguyên lý phù hợp với mức độ tiếp thu của quần chúng. Giáo dục cho họ có khả năng độc lập tư duy (suy nghĩ, tư tưởng) dựa trên những nguyên lý và tự tìm ra phương hướng cho bản thân! Khi người phạm lỗi lầm, đừng làm mọi thứ để chỉ ra lỗi lầm của họ, hãy khoan dung và tha thứ cho họ dựa vào những điều tốt đẹp mà họ đã làm trong quá khứ. Điều đó sẽ giúp họ ngày càng trở nên tốt hơn, như một người chết đi mà được sống lại. Đấy là một phương cách của Đấng trị vì”.

Trương Tử thành khẩn đáp tạ: “Thầy giảng thật thấu đáo”.

Khổng Phu Tử giảng thêm: “Muốn người khác tin theo, tốt nhất là khiêm tốn lắng nghe quan điểm của người khác trước. Muốn một chính sách được thực thi nhanh chóng, tốt nhất là hãy tự mình làm gương. Muốn người sớm quy phục mình, cách tốt nhất là dạy cho họ những luật chân chính. Nếu trò có thể đạt được những điều trên thay vì chỉ biết mắng mỏ và trừng phạt dân chúng, trò sẽ là một người chấp chính được yêu chuộng”.

”Không có người theo nếu nhìn thấy quá rõ”, ý nói rằng chúng ta nên đối xử với người khác bằng nhẫn nại và không nên mắng chửi người ta hay là yêu cầu người ta quá khắc khe. Là con người, ai cũng có điểm yếu kém. “Không có người theo nếu nhìn thấy quá rõ”, dạy chúng ta trở thành khoan dung và ân cần với người khác. Chúng ta nên cảm nhận được điểm mạnh của người khác và học hỏi từ họ để không ngừng thăng tiến về phẩm chất và đạo đức.


Khổng Tử hỏi Tử Lộ: “Ông yêu thích điều gì?”.

Tử Lộ trả lời: “Tôi thích múa kiếm”.

Khổng Tử nói: “Tôi không hỏi ý đó. Tôi muốn nói rằng dựa vào tài cán của ông, mà còn cố gắng học tập thêm nữa, người khác làm sao đuổi theo kịp được?”.

Tử Lộ hỏi: “Học tập cũng có lợi sao?”.

Khổng Tử nói: “Một vị Vua nếu như không có bề tôi nào dám khuyên can, việc chính sự sẽ vấp phải sai lầm bại hoại. Một kẻ sỹ nếu không có người bằng hữu nào có thể khuyên bảo cho mình, thì đức hạnh rồi sẽ có thiếu sót. Cưỡi ngựa chưa thuần không thể vứt bỏ roi ngựa. Bắn cung nỏ không thể để thất lạc dụng cụ chỉnh cung. Chạm khắc đồ gỗ thì cần phải có đường mực mới chính xác được. Người ta tiếp nhận lời khuyên nhủ mới có thể đạt đến cảnh giới của Thánh nhân. Theo thầy học tập, siêng năng học hỏi, chắc chắn có thể thành công. Vứt bỏ nhân nghĩa, chán ghét những người trí thức, thì sớm muộn cũng sẽ phạm tội và bị trừng phạt. Người quân tử thông thái sáng suốt thì không thể không học tập được”.

Tử Lộ nói:“Giống cây trúc sinh ra trên núi Nam, không được gia công, bản thân nó chính là đã ngay thẳng. Chặt nó xuống dùng để làm mũi tên, có thể bắn thủng cả da tê giác. Vì sao lại cần phải học tập chứ?”.

Khổng Tử nói: “Lấy lông vũ gắn thêm vào đuôi mũi tên, đầu mũi tên mài cho sắc bén hơn nữa, không phải là sẽ bắn càng lợi hại hơn sao?”.

Tử Lộ thi lễ và nói: “Tôi xin tiếp thu lời dạy bảo của Ngài!”.

10 Điều Tâm Niệm

1- Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không tật bệnh, vì không tật bệnh thì tham dục dễ sanh.
2- Ở đời đừng cầu không khó khăn, vì không khó khăn thì kiêu xa nổi dậy.
3- Cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.
4- Sự nghiệp đừng mong không bị chông gai, vì không bị chông gai thì chí nguyện không kiên cường.
5- Làm việc đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng thị thường kiêu ngạo.
6- Giao tiếp đừng mong lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.
7- Với người đừng mong thuận chiều ý mình, vì được thuận chiều ý mình thì tất sanh tự kiêu.
8- Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đáp trả là thi ân mà có mưu tính.
9- Thấy lợi đừng nhúng tay, nhúng tay thì hắc ám tâm trí.
10- Oan ức không cần bày tỏ, vì bày tỏ là hèn nhát mà trả thù thì oán đối kéo dài
Lấy bệnh khổ làm thuốc hay, lấy hoạn nạn làm thành công, lấy gai gốc làm giải thoát, lấy ma quân làm đạo bạn, lấy khó khăn làm sự tác thành, lấy bạn tệ bạc làm người giúp đỡ, lấy kẻ chống nghịch làm người giao du, lấy sự thi ân như đôi dép bỏ, lấy xả lợi làm vinh hoa, lấy oan ức làm đà tiến thủ. Thế nên, ở trong chướng ngại mà vượt qua tất cả.
Nên chấp thuận trở ngại thì thông suốt, mà mong cầu thông suốt thì sẽ bị trở ngại.
Ngày nay những người học đạo, trước hết không dấn mình vào mọi sự trở ngại, nên khi trở ngại xáp tới thì không thể nào đối phó. Chánh Pháp chí thượng vì vậy mà mất cả, đáng tiếc đáng hận biết bao

.